|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 53/2024/HSST Ngày 05 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Quốc Vượng
- Bà Phan Thị Vui
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long — Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024./QĐXX-ST ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T, sinh năm 1981 tại: tỉnh Nam Định.
Tên gọi khác: Trường T2; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Tổ D, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Nguyễn Quốc H, sinh năm 1947 (đã chết), Mẹ: Vũ Thị M, sinh năm 1952; Bị cáo có 03 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1991; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 4 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 12/10/2018, Công an thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt số tiền 750.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt hành chính số 73/QĐ-XPVPHC ngày 12/10/2018. Hiện tại, bị cáo đã chấp hành xong quyết định.
Ngày 27/02/2024 có hành vi Chống người thi hành công vụ, bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ hình sự. Đến ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố và tạm giam, đến ngày 09/5/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cho gia đình Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Mạnh H1, sinh năm 1986 – Công tác tại Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt).
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Xuân T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị N, là vợ chồng kết hôn vào năm 2019 và sinh sống tại tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H. Quá trình chung sống với nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau (bút lục 66-68). Ngày 25/02/2024, T có hành vi dùng tay đánh nhiều cái vào người chị N dẫn đến bầm tím nhiều nơi trên cơ thể nên khoảng 18 giờ ngày 27/02/2024, chị N đến Công an thị trấn T, huyện H trình báo về việc bị Nguyễn Xuân T đánh đập vào ngày 25/02/2024, đồng thời đề nghị Công an thị trấn đến giải quyết vụ việc, có biện pháp giáo dục, răn đe T để bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho chị N.
Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của chị N, đồng chí Đậu Xuân C – Trưởng Công an thị trấn T phân công đồng chí Trần Mạnh H1 (cán bộ Công an thị trấn) phối hợp cùng anh Võ Văn K (Dân quân thường trực), anh Vũ Văn T1 (Bảo vệ dân phố khu phố B) cùng đi đến nhà chị N để giải quyết vụ việc. Khi đi đồng chí Hổ mặc cảnh phục Công an nhân dân; anh K mặc trang phục của dân quân, anh T1 mặc trang phục bảo vệ dân phố. Khi đến nhà chị N thấy cửa nhà không khóa và đèn điện trong nhà được mở sẵn nên chị N và anh H1 đi vào nhà (phòng khách); còn anh K đứng ngoài sân trước cửa nhà, anh T1 đứng ngoài cổng nhà. Tại thời điểm trên, sau khi đã uống bia về Nguyễn Xuân T đang cho dê ăn ở sau nhà, cầm 01 con dao (bằng kim loại màu đen, dài 43cm) đi lên phía trước nhà thấy anh H1 đang đứng trong phòng khách liền đi đến đối diện anh H1 nói “Mày là thằng nào, sao vào nhà tao, mày ăn trộm cái gì”, anh H1 trả lời: “Tôi là Công an thị trấn T”. Vừa nói xong, T dùng tay phải cầm dao kề lên cổ bên trái anh H1 nói: “mày ngồi xuống giường” anh H1 tránh được nên bị xước da cổ bên trái (bút lục 108), T chạy đến dùng ổ khóa đóng cửa ra vào, không cho
anh H1 đi ra ngoài; chị N nói: “Đây là Công an thị trấn đến làm việc”. Nghe chị N nói vậy nhưng T vẫn cầm dao chỉ vào người chị N và chửi bới chị N cùng anh H1. Khi này, T sử dụng điện thoại di động của mình để quay video anh H1 và chị N phát trực tiếp trên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản tên “Nguyễn Xuân T” đồng thời có nhiều lời lẽ chửi bới, xúc phạm anh H1 và chị N. Mặc dù anh H1 và chị N nhiều lần giải thích bản thân anh H1 là Công an thị trấn đến để thực thi công vụ nhưng T vẫn chống đối, không cho anh H1 đi ra ngoài, đồng thời dùng mũi dao (dao mũi bằng) khứa nhiều cái liên tiếp vào vùng ngực bên trái anh H1, làm anh H1 bị vết hằn tím dài 7cm, phía trước ngực bên trái (bút lục 108). Một lúc sau, anh Phạm Tấn K1, là bạn của T đến can ngăn nên T mở cửa ra, K1 giật dao trên tay của T. Lúc này, anh H1 đi ra ngoài; T thấy anh H1 đi ra ngoài liền đi đến dùng tay nắm cổ áo anh H1 đẩy vào trong nhà, làm đứt 04 cúc áo phía trên của anh H1. Sau đó, Công an thị trấn T đến giải quyết đưa T và những người liên quan về trụ sở làm việc.
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 94/KLTTCT-TTPY ngày 08/03/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:
Kết qủa giám định:
- Sẹo trầy xước da cổ trái kích thước (2x0,1)cm
- Vết bầm trước vai trái tương ứng với xương đòn trái kích thước (3x2)cm.
- Vết bầm chuyển sang vàng không rõ hình dạng 1/3 trên – ngoài và 1/3 giữa – ngoài cánh tay trái kích thước (4x4)cm và (3x3)cm.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Mạnh H1, tại thời điểm giám định là 01%.
*Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 27/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đối với chị Nguyễn Thị N thể hiện:
- Tại vùng mặt bên trái có các vết bầm tím, nghi tụ máu dưới da kích thước (6x6)cm.
- Tại vùng dưới mắt phải có vết sưng phù nề, kích thước 03cm và có nhiều vết bầm tím trên cẳng tay, vùng ngực, vùng đùi, vùng chân ... các dấu vết trên của chị N là do Nguyễn Xuân T đánh đập gây ra (bút lục 74 – 75)
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ của vụ án.
01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 43cm, cán dao dài 11cm, hình trụ, đường kính 03cm, lưỡi dao dài 32cm, bản rộng lưỡi dao nhất là 7cm.
01 áo ngắn tay, màu xanh là trang phục xuân hè lực lượng Cảnh sát nhân dân (áo nam), không có 04 cúc áo phía trên.
01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Iphone X, Số máy: MQAR2LL/A, SỐ S-ri: C39VJ7NTJCLJ, IMEL: 359403080360947.
Xử lý vật chứng vụ án:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định: 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 43cm, cán dao dài 11cm, hình trụ, đường kính 03cm, lưỡi dao dài 32cm, bản rộng lưỡi dao nhất là 7cm đây là vật chứng liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Iphone X, là tài sản của Nguyễn Xuân T. Vào ngày 27/02/2024, T đã sử điện thoại di động trên để quay video phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook, là vật chứng vụ án. Căn cứ điểm Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
01 áo ngắn tay, màu xanh là trang phục xuân hè lực lượng Cảnh sát nhân dân (áo nam), không có 04 cúc áo, đây là tài sản của Trần Mạnh H1, là vật chứng vụ án. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho anh H1 theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, anh Trần Mạnh H1 không yêu cầu bồi thường gì nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
Tại bản cáo trạng số 43/CTr-VKS ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt; Kiểm sát viên đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không có tổ chức, cá nhân nào yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có căn cứ xác định như sau:
[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra đã có bản trình bày ý kiến phù hợp với lời khai của bị cáo và các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định như sau: Khoảng 19 giờ ngày 27/02/2024, sau khi tiếp nhận đơn trình báo của chị Nguyễn Thị N về việc bị Nguyễn Xuân T (chồng chị N) đánh đập vào ngày 25/02/2024. Đồng chí Trưởng Công an thị trấn T đã phân công anh Trần Mạnh H1 phối hợp cùng anh Võ Văn K và anh Vũ Văn T1 cùng đi đến nhà chị Nguyễn Thị N, ngụ tại tổ C, khu phố B, thị trấn T để giải quyết vụ việc và làm việc với Nguyễn Xuân T. Tại đây, mặc dù T đã nhìn thấy anh H1, mặc cảnh
phục Công an nhân dân và được thông báo lý do đến làm việc nhưng T đã có hành vi chống đối, không chấp hành; T còn có hành vi dùng điện thoại quay video phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook, đồng thời có nhiều lời lẽ chửi bới, xúc phạm anh H1 và chị N; T tiếp tục có hành vi dùng 01 con dao khứa nhiều cái vào vùng ngực, vùng cổ, gây thương tích cho anh H1 thương tích 01%. Mặc dù khi có anh Phạm Tấn K1 đến can ngăn nhưng T vẫn tiếp tục nắm cổ áo anh H1 kéo, đẩy làm đứt 04 cúc áo của anh H1, chỉ đến khi Công an thị trấn T tăng cường lực lượng đến giải quyết vụ việc T mới chấm dứt hành vi của mình.
[3]. Xét thấy, hành vi dùng dao khứa nhiều cái vào vùng ngực, vùng cổ, gây thương tích cho anh H1 thương tích 1%; nắm cổ áo anh H1 kéo, đẩy làm đứt 04 cúc áo của anh H1 là Cán bộ Công an thị trấn T, huyện H đang thực thi nhiệm do hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan quản lý nhà nước, của cán bộ, công chức và những người được giao nhiệm vụ, công vụ; ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Hiện nay trên cả nước tội phạm về chống người thi hành công vụ phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính, mà phổ biến nữa là các bị cáo phạm tội sau khi dùng chất kích thích là rượu, bia. Trên địa bàn huyện H cũng vậy, thời gian qua loại tội phạm này cũng phổ biến; thể hiện sự xem thường pháp luật của người dân đối với lực lượng cán bộ, tổ chức thực hiện công vụ nên cần xét xử nghiêm khắc với hành vi phạm tội đối với bị cáo; mặt khác, bị cáo T đã từng có nhân thân xấu: Ngày 12/10/2018, Công an thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt số tiền 750.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt hành chính số 73/QĐ-XPVPHC ngày 12/10/2018. Hiện tại, bị cáo đã chấp hành xong quyết định nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục dùng vụ lực tấn công người thi hành công vụ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản, bị cáo gây thương tích cho anh H1 nhưng tỷ lệ 01% và được anh H1 không yêu cầu xử lý về hành vi gây thương tích, bị cáo đang nuôi con nhỏ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo tự rèn luyện bản thân dưới sự giám sát, giáo dục của địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú.
[6]. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến ngày 09/5/2024; 01 (Một) ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ là 72 (Bảy mươi hai) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 10 (Mười) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H nhận được quyết định thi hành án cải tạo không giam giữ và bản án của Tòa án. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú để quản lý giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
3. Về trách nhiệm dân sự: không có tổ chức, cá nhân nào yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.
4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 43cm, cán dao dài 11cm, hình trụ, đường kính 03cm, lưỡi dao dài 32cm, bản rộng lưỡi dao nhất là 7cm là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Iphone X, là tài sản của Nguyễn Xuân T, đã sử dụng điện thoại di động trên để quay video phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook, là vật chứng của vụ án.
- Trả cho anh Trần Mạnh H1: 01 áo ngắn tay, màu xanh là trang phục xuân hè lực lượng Cảnh sát nhân dân (áo nam), không có 04 cúc áo, đây là tài sản của Trần Mạnh H1.
(Vật chứng của vụ án được mô tả như Quyết định chuyển vật chứng số40/QĐ-VKS ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Thi hành án dân sự và Thi hành án hình sự Công an huyện H số 0006001 ngày11/6/2024).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Xuân T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
