|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 05-6-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Sơn Hải.
- Ông Hoàng Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: PHÙNG VĂN MẬU - Sinh ngày: 06-06-1968 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phùng Văn D (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Thu H – Sinh năm: 1970 (đã ly hôn); Con: Có 02 con đều sinh năm 2008.
Tiền án: Bị cáo Phùng Văn M bị xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2022/HS-ST ngày 25-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bị cáo M chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-06-2022, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không;
Bị cáo Phùng Văn M bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh T.
2. Bị cáo: HỒ VĂN AN - Sinh ngày: 08-02-1977 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hồ Văn K (đã chết); Con bà: La Thị L – Sinh năm: 1939; Vợ: Có 02 vợ, vợ thứ nhất: Phạm Thị C – Sinh năm: 1976 (đã ly hôn), vợ thứ hai: Hoàng Thị Thu A – Sinh năm: 1976 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 1998;
Tiền án: Bị cáo Hồ Văn A1 bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 26-04-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo A1 chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-04-2023, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bị cáo Hồ Văn A1 bị xử phạt tổng hình phạt 10 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 100/2006/HSST ngày 07-11-2006 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo Hồ Văn A1 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-01-2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Mạnh Đ – Sinh năm: 1990; Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Tuấn D1 – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16-01-2024, bị cáo Phùng Văn M đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Hồ Văn A1, anh Nguyễn Mạnh Đ và anh Nguyễn Tuấn D1, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 16-01-2024, bị cáo Hồ Văn A1 (là người đã có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29N3-5499 (xe của bị cáo A1) đến nhà bị cáo Phùng Văn M, mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo A1 hỏi mua của bị cáo M 500.000 đồng ma túy loại Heroine, bị cáo M đồng ý, bị cáo A1 đưa tiền cho M. Bị cáo M cầm tiền và mượn xe mô tô của bị cáo A1 đi đến khu vực xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo M gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 01 gói Heroine với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được H1, bị cáo M chia thành 03 gói nhỏ mang về nhà đưa cho bị cáo A1 01 gói Heroine. Bị cáo A1 cất giấu gói Heroine vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe về đến khu vực vắng người thuộc thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo A1 lấy một phần Heroine trong gói vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. Sau đó về nhà, bị cáo A1 tiếp tục đi đến khu vực thôn H, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang tìm chỗ vắng người để sử dụng nốt số Heroine còn lại, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã K. huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, thu giữ của bị cáo Hồ Văn A1 01 gói được gói bằng giấy màu vàng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng.
Lần 2: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16-01-2024, anh Nguyễn Tuấn D1 và anh Nguyễn Mạnh Đ rủ nhau mỗi người góp 100.000 đồng mua ma túy để sử dụng. Sau đó, anh D1 điều khiển xe đạp điện chở anh Đ đến nhà bị cáo Phùng Văn M hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroine. Bị cáo M đồng ý bán cho anh D1 và anh Đ 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được H1, anh D1 và anh Đ đi về đến khu vực vắng người thuộc thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, anh D1 và anh Đ cùng nhau sử dụng hết số Heroine vừa mua được bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể.
Hồi 18 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Phùng Văn M thu giữ 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng tại ngăn tủ gỗ trong buồng ngủ của bị cáo M. Bị cáo M khai mục đích tàng trữ để bán.
Kết luận giám định số: 193/KL-KTHS ngày 19-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Hồ Văn A1 ngày 16-01-2024 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 0,05g (Không phẩy không năm gam).
Kết luận giám định số: 194/KL-KTHS ngày 19-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Phùng Văn M ngày 16-01-2024 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 0,118g (Không phẩy một một tám gam).
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với bị cáo Phùng Văn M, bị cáo Hồ Văn A1, anh Nguyễn Tuấn D1, anh Nguyễn Mạnh Đ đều (+) Dương tính với ma túy.
Tại cáo trạng số: 66/CT-VKSSD ngày 20 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Phùng Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố đối với bị cáo Hồ Văn A1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phùng Văn M và Hồ Văn A1. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh:
- Tuyên bị cáo Phùng Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bị cáo Hồ Văn A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Văn M từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-01-2024.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn A1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-01-2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
- 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hồ Văn A1; mặt trước phong bì ghi “Tang vật thu giữ của Hồ Văn A1 giám định ngày 16/01/2024”.
- 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Phùng Văn M; mặt trước phong bì ghi “Tang vật thu giữ của Phùng Văn M giám định ngày 16/01/2024".
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn M1 tài sản không phải là vật chứng của vụ án.
- 01 (một) Điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím số, số seri: 358688214365158, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại số: 0965.094.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Văn M.
Trả lại cho bị cáo Hồ Văn A1 tài sản không phải là vật chứng của vụ án.
- 01 (một) Điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu VIETTEL V6317, loại bàn phím số, bên trong máy có lắp 02 sim điện thoại số: 0862.872.xxx và 0338 341 641, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Văn A1.
Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23-05-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Phùng Văn M phạm tội mà có.
Số tiền 500.000đ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Văn M, Hồ Văn A1 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng:
Bị cáo Phùng Văn M biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Hồ Văn A1 biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn M và bị cáo Hồ Văn A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo M, bị cáo A1 khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Phùng Văn M.
Ngày 16-01-2024, tại nhà ở của bị cáo Phùng Văn M, bị cáo M đã 02 lần có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho bị cáo Hồ Văn A1, anh Nguyễn Tuấn D1 và anh Nguyễn Mạnh Đ, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 16-01-2024, bị cáo Phùng Văn M bán trái phép 01 gói Heroine cho bị cáo Hồ Văn A1 với số tiền 500.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16-01-2024, bị cáo Phùng Văn M bán trái phép 01 gói Heroine cho anh Nguyễn Tuấn D1 và anh Nguyễn Mạnh Đ với số tiền 200.000 đồng.
Ngoài ra bị cáo Phùng Văn M còn tàng trữ trái phép 0,118g (Không phẩy một một tám gam) Heroine nhằm mục đích mua bán.
Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Hồ Văn A1.
Hồi 13 giờ 05 phút ngày 16-01-2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn H, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Hồ Văn A1 (là người có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích) đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,05g (Không phẩy không năm gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý. Bị cáo Hồ Văn A1 là người đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng chưa được xóa án tích, tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,05g Heroine, đây là tình tiết định tội. Các bị cáo mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phùng Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hồ Văn A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo Phùng Văn M, bị cáo Hồ Văn A1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Hồ Văn A1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo Phùng Văn M đã chấp hành xong toàn bộ Bản án số 09/2022/HS-ST ngày 25-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo Phùng Văn M tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo M phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, công việc chính của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy bị cáo Phùng Văn M và bị cáo Hồ Văn A1 thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Chất ma tuý là chất kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Từ đó, phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác như cướp giật, trộm cắp, lây truyền đại dịch bệnh HIV-AIDS là rất nguy hiểm cho xã hội nói chung và trên địa bàn huyện S, tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Bản thân các bị cáo đã bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm của bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để giúp các bị cáo cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung tội phạm này.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 Phong bì bên trong có chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài phong bì có chữ ký của bị cáo Phùng Văn M, bị cáo Hồ Văn A1 và dấu của Phòng K1 tỉnh Tuyên Quang. HĐXX xét thấy, đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 Điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu VIETTEL V6317, bên trong máy có lắp 02 sim điện thoại số: 0862.872.xxx và 0338 341 641 thu giữ của bị cáo Hồ Văn A1 và 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu NOKIA, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại số: 0965.094.xxx thu giữ của bị cáo Phùng Văn M. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận không sử dụng chiếc điện thoại nói trên làm công cụ để liên lạc với nhau để trao đổi, thỏa thuận việc mua, bán ma túy. Do vậy, 02 chiếc điện thoại nói trên không phải là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo quản lý, sử dụng là có căn cứ.
- Ngày 16-01-2024, bị cáo Phùng Văn M thực hiện hành vi bán ma túy trái phép cho bị cáo Hồ Văn A1, anh Nguyễn Mạnh Đ, anh Nguyễn Tuấn D1 được tổng số tiền 700.000đ (bán cho bị cáo A1 500.000đ, bán cho anh Đ và anh D1 200.000đ). HĐXX xét thấy, số tiền 700.000đ nói trên là khoản tiền do phạm tội mà có. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo M chưa giao nộp lại số tiền này. Do vậy, cần truy thu khoản tiền do phạm tội mà có từ hành vi bán ma túy trái phép của bị cáo M số tiền 700.000đ là có căn cứ.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn M, bị cáo Hồ Văn A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam với bị can, ra quyết định truy tố; ra Cáo trạng; thu thập chứng cứ tài liệu đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phùng Văn M vào ngày 15-01-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã có Công văn số 242/CV-CQCSĐT ngày 07-03-2024 chuyển tài liệu đến Công an huyện T, tinh V để xử lý theo quy định.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Hồ Văn A1, anh Nguyễn Tuấn D1, anh Nguyễn Mạnh Đ vào ngày 16-01-2024, Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 70/QĐ-XPHC, 71/QĐ-XPHC và 72/QĐ-XPHC cùng ngày 07-03-2024.
- Đối với người đàn ông theo lời khai của bị cáo M là người bán ma túy cho bị cáo M vào ngày 16-01-2024 tại khu vực xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Phùng Văn M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Phùng Văn M bị bắt tạm giữ tạm giam, ngày 16-01-2024.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hồ Văn A1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Hồ Văn A1 bị bắt tạm giữ tạm giam, ngày 16-01-2024.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
- 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hồ Văn A1; mặt trước phong bì ghi “Tang vật thu giữ của Hồ Văn A1 giám định ngày 16/01/2024”.
- 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Phùng Văn M; mặt trước phong bì ghi “Tang vật thu giữ của Phùng Văn M giám định ngày 16/01/2024".
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn M1 tài sản không phải là vật chứng của vụ án.
- 01 (một) Điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím số, số seri: 358688214365158, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại số: 0965.094.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Văn M.
Trả lại cho bị cáo Hồ Văn A1 tài sản không phải là vật chứng của vụ án.
- 01 (một) Điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu VIETTEL V6317, loại bàn phím số, bên trong máy có lắp 02 sim điện thoại số: 0862.872.xxx và 0338 341 641, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Văn A1.
Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23-05-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Phùng Văn M phạm tội mà có.
Số tiền 500.000đ.
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Buộc bị cáo Phùng Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Hồ Văn A1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Bị cáo Phùng Văn M, bị cáo Hồ Văn A1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 05-06-2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Tuấn D1, anh Nguyễn Mạnh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |
9
10
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn Mậu
