Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 04 – 6 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền

Ông Đoàn Văn Ngàn

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 với bị cáo:

BÙI THỊ QUÝ;

Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 9 năm 1983 tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Đăng ký thường trú: Tổ E, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Số nhà A, đường N, tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân Đ (Đã chết) và bà Đoàn Thị H. Bị cáo có chồng là Trần Thái B (Đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại số nhà A, đường N, tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11/2023, Bùi Thị Q thỏa thuận với một người đàn ông quốc tịch Trung Quốc (tên thường gọi A S) về việc thuê nơi ở của Q để cất giấu thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất với giá 4.000.000 đồng. Từ đầu tháng 11/2023 đến đầu tháng 12/2023 Q đã nhận từ A S 314 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu nước ngoài, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.

Ngày 08/11/2023 Bùi Thị Q đi chợ bên Trung Quốc đã gặp lại A S và nhận vận chuyển 10 cây thuốc lá (Trong tổng số 314 cây nhận của A S) từ nơi ở của Bùi Thị Q sang Trung Quốc, Q đã thuê Nguyễn Thị T, Hoàng Thị Thanh M, Nguyễn Thị T1, Phan Thị Y và Dương Văn H1 vận chuyển với giá 25.000 đồng/cây, mỗi người 02 cây.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2023 Công an thành phố L đã kiểm tra hành chính nơi ở của Bùi Thị Q tại số nhà A, đường N, tổ B, phường L, thành phố L và phát hiện 05 đối tượng trên đang có hành vi vận chuyển thuốc lá thuê cho Bùi Thị Q. Tiến hành khám xét nơi ở của Q, cơ quan điều tra thu giữ 09 thùng bìa cát tông với hình dạng, kích thước khác nhau, bên trọng là 314 cây thuốc lá điếu dạng hình hộp chữ nhật. Cụ thể: 22 cây nhãn hiệu “BLEND No.555 GOLD”, 121 cây nhãn hiệu “Nanjing – Xuan He Men”, 36 cây nhãn hiệu “Furongwang”, 41 cây nhãn hiệu "Chunghwa", 43 cây nhãn hiệu “Yun Yan”, 18 cây nhãn hiệu “Yuxi”, 15 cây nhãn hiệu bằng chữ nước ngoài, trên vỏ hộp màu vàng có in hình người.

Kết luận giám định số 9141/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của V Bộ C1 kết luận:

  • - Toàn bộ 220 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “BLEND No.555 GOLD” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “BLEND No.555 GOLD”.
  • - Toàn bộ 1.210 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Nanjing” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Nanjing”.
  • - Toàn bộ 360 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Furongwang” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Furongwang”.
  • - Toàn bộ 410 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Chunghwa” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Chunghwa”.
  • - Toàn bộ 430 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Yun Yan” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Yun Yan”.
  • - Toàn bộ 180 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Yun Yan SPECIAL EDITION” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Yun Yan SPECIAL EDITION”.
  • - Toàn bộ 180 bao thuốc lá đều có nhãn hiệu “Yuxi” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Yuxi”.
  • - Toàn bộ 150 bao thuốc lá đều có chữ nước ngoài, không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm.

Tất cả mẫu thuốc lá điếu gửi giám định đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam

Tại công văn số 04/CV-2024HHTLVN ngày 04/01/2024 của H2 trả lời 08 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Blend No.555 G, N, F, C, Yun Y1 – S, Y2 và nhãn hiệu chữ Trung Quốc do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L cung cấp đều là thuốc lá điếu nhập lậu.

Cáo trạng số 35/CT-VKSTP ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Bùi Thị Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” xử phạt bị cáo Bùi Thị Q với mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Thị Q.

Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận từ đầu tháng 11/2023 đến ngày 08/12/2023 bị cáo Bùi Thị Q đã thực hiện hành vi tàng trữ 3.140 (Ba nghìn một trăm bốn mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu, hành vi của bị cáo Bùi Thị Q đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng thiếu ý thức, coi thường pháp luật.Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo; Bị cáo là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi 02 con nhỏ và bản thân bị cáo có đóng góp tham gia công tác an sinh xã hội tại phường N, thành phố L. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án, bản thân bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải chăm sóc 02 con nhỏ, bị cáo có đóng góp 3.000.000 đồng tham gia công tác an sinh xã hội tại phường N, thành phố L và được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, xét thấy, không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù giam, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ cây thuốc lá điếu còn lại sau giám định gồm: 11 cây nhãn hiệu “BLEND No.555 GOLD”, 84 cây nhãn hiệu “Nanjing – Xuan He Men”, 24 cây nhãn hiệu “Furongwang”, 28 cây nhãn hiệu “Chunghwa", 24 cây nhãn hiệu “Yun Yan”, 11 cây nhãn hiệu “Yun Yan – Special Edition", 11 cây nhãn hiệu “Yuxi”, 09 cây nhãn hiệu bằng chữ nước ngoài, trên vỏ hộp màu vàng có in hình người là vật Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên A S đã thuê chỗ ở của Bùi Thị Q để cất giấu thuốc lá điếu nhập lậu. Ngoài lời khai của Bùi Thị Q không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Vì vậy, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 05 người Bùi Thị Q đã thuê để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là Nguyễn Thị T, Hoàng Thị Thanh M, Nguyễn Thị T1, Phan Thị Y và Dương Văn H1. Quá trình điều tra xác định hành vi của 05 người không cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Ngày 13/3/2024 Công an thành phố L đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Q 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “BLEND No.555 GOLD”, 84 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Nanjing – Xuan He M1”, 24 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Furongwang”, 28 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Chunghwa”, 24 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Yun Yan”, 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Yun Yan – S”, 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Yuxi”, 09 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu bằng chữ nước ngoài, trên vỏ hộp màu vàng có in hình người được niêm phong trong 08 thùng bìa cát tông dán kín.

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024)

3. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Bùi Thị Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".


Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - UBND phường Lào Cai, TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai;
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về tàng trữ hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÙI THỊ Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger