|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 23 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Mộc Khải, bà Ngô Thị Lệ Thi.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21, 23 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1986; nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: Tổ E, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật giáo H1; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn P (chết) và bà Phạm Thị Đ, vợ là Lê Thị Thùy T, có 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc C1, Văn phòng Luật sư Nguyễn T1 – Đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: số F, D, (đường C cũ), khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thùy T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).
Người làm chứng: Ông Trần Thanh T2, bà Hồ Thị G, ông Trương Văn Q, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 06/02/2024, lực lượng Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố C và Công an tỉnh A tổ chức tuần tra phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn C đang dùng vỏ lãi vận chuyển 1.690 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (trong đó có 590 bao hiệu Hero, 600 bao hiệu Jet, 500 bao hiệu Scott) tại khu vực Rạch Cây S thuộc ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang và thu giữ tang vật có liên quan.
Quá trình điều tra, xác định: khoảng 03 giờ ngày 06/02/2024, C nhận được điện thoại của người tên M nên điều khiển vỏ lãi đi vào Rạch Cây S đến cột mốc 268, nhận từ Mập và Â (không rõ họ tên, địa chỉ, người Campuchia) tổng cộng 169 cây thuốc lá điếu ngoại (1.690 bao), vận chuyển về Việt Nam giao cho người tên Huỳnh nhà ở khu vực phường N, để nhận tiền công 350.000 đồng, trên đường vận chuyển thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, C còn khai từ khoảng tháng 01/2024 đến trước ngày bị bắt quả tang đã vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho M được 03 lần, mỗi lần nhận tiền công 350.000 đồng, tổng cộng đã nhận 1.050.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 1.690 bao thuốc lá điếu nhập lậu; 01 chiếc vỏ lãi màu xanh, loại composite, 01 máy nổ hiệu Hinota và 01 điện thoại di động màu đen, ghi chữ T-L cùng sim điện thoại bên trong.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSCĐ-HS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 tháng đến 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 1.690 bao thuốc lá điếu nhập lậu, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động có ghi chữ T-L và sim điện thoại bên trong,, giao trả cho bà T 01 chiếc vỏ lãi và 01 máy nổ, buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính của 1.050.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo bị lôi kéo, mục đích muốn kiếm thêm thu nhập nên nhất thời phạm tội, là lao động chính trong gia đình, trong thời gian bị tạm giam phải nhập viện để điều trị do bệnh sạn thận. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Trong phần đối đáp, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa bổ sung, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/02/2024, phù hợp lời khai của quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật được thu giữ, các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 03 giờ đến 05 giờ sáng ngày 06/02/2024, bị cáo đã có hành vi vận chuyển 1690 bao thuốc lá điếu nhập lậu, bao gồm các loại thuốc lá hiệu Hero, J và S1 khi đang vận chuyển về khu vực Rạch Cây S thuộc ấp B, xã V, thành phố C thì bị bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ Luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật nhưng có phần nghiêm khắc, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật, Hình sự bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, thời gian tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay cũng đủ cho bị cáo nhận thức về hành vi phạm tội của bản thân, ngoài ra trong thời gian tạm giam bị cáo phải nhập viện để điều trị bệnh sỏi thận (02 quả thận bị sỏi kích thước 7mm và 7,7mm) theo hồ sơ bệnh án số 018429/24 ngày 26/4/2024 của bệnh viện Đ1 tỉnh An Giang. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong thời gian nhất định, mà cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và có điều kiện trị bệnh, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhưng cũng đủ tính răn đe, giáo dụng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 1690 bao thuốc lá điếu nhập lậu bị thu giữ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động màu đen, ghi chữ T –L dùng để liên lạc khi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước; Đối với số tiền 1.050.000 đồng do bị cáo thu lợi bất chính nên buộc bị cáo giao nộp để sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc vỏ lãi màu xanh cùng 01 máy nổ hiệu Hinota là phương tiện bị cáo dùng để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, đáng lẽ phải tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, dùng để làm phương tiện thiết yếu để lao động hằng ngày, bà T không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội và giá trị tài sản không cao (khoảng 6.000.000 đồng) nên xét giao trả cho bà T.
[7] Các vấn đề khác: Đối với việc bị cáo khai trước ngày bị bắt quả tang đã thực hiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu 03 lần nhưng ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này của bị cáo là đúng quy định pháp luật. Đối với người tên H, M, Â không rõ lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 01 (một) năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 5 năm 2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn C, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 1.690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (590 bao thuốc lá hiệu Hero, 500 bao thuốc lá hiệu Scott, 600 bao thuốc lá hiệu Jet);
- Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, có ghi chữ T-L cùng sim số bên trong được lưu giữ trong 01 phong bì màu trắng bên ngoài có ghi vụ:242/KL-KTHS ngày 07/3/2024 có chữ ký, chữ viết mang tên Giáp Thanh T3, Nguyễn Văn Q1 và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang;
- Trả lại cho bà Lê Thị Thùy T 01 chiếc vỏ lãi màu xanh, loại Composite, dài 5,4 mét và 01 máy nổ hiệu Hinota (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
5. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo C, bà T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Đại Nam |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Chao phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chao 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 01 (một) năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 5 năm 2024).
