|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01/7/2024 V/v Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hè và anh Nguyễn Đức Long |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn;
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoài Thu- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế (Số F đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:256/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, khu vực 2, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Số E kiệt H đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1981; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, khu vực 2, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Số E kiệt H đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 3 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đức L tự nguyện kết hôn, đăng ký ngày 22/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng thuê nhà trọ chung sống cho đến năm 2022 thì chuyển đến sống tại nhà riêng ở địa chỉ số E kiệt H đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cuộc sống vợ chồng kể từ khi kết hôn cho đến nay không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L không có trách nhiệm trong việc cùng chị chăm sóc, nuôi dạy các con, thường nhậu say về đánh đập gây tổn thương đến thể chất và tinh thần của chị cùng các con, từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng ngày một căng thẳng, tình trạng mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Nhật Thiên T, sinh ngày 12/12/2009; Nguyễn Đức Anh N, sinh ngày 04/01/2013 và Nguyễn Đức Thiên P, sinh ngày 09/5/2022. Hiện các cháu đều đang ở với anh, chị. Sau ly hôn, chị yêu cầu giao cả 03 cháu cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Không yêu cầu anh Nguyễn Đức L cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị H xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Đức L trình bày:
Về điều kiện và thời gian kết hôn như chị Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Anh và chị H tự nguyện kết hôn và chung sống hạnh phúc cho đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, đỉnh điểm là vào đầu năm 2024 khi chị H có lời lẽ xúc phạm, chửi bới anh thì anh có dùng cán chổi đánh chị H 02 cái. Từ đó khiến cho cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Nay do vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh L thừa nhận vợ chồng có 03 con chung như chị H đã trình bày. Trường hợp ly hôn, anh đồng ý giao cả 03 con chung cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Anh L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án chị H có đơn đề nghị không tiếp tục tiến hành hòa giải, anh L có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đức L; giao các cháu Nguyễn Nhật Thiên T, sinh ngày 12/12/2009; Nguyễn Đức Anh N, sinh ngày 04/01/2013 và Nguyễn Đức Thiên P, sinh ngày 09/5/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Đức L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản chung: chị H, anh L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị H, anh L cùng xác nhận không có không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc hị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Đức L đã được triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đức L kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 22/5/2009. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ có cơ sở xác định nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ những xung đột, bất đồng quan điểm mà chị H, anh L đã không thể tự giải quyết được. Anh chị đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã khiến cho hôn nhân căng thẳng trầm trọng, thậm chí là dẫn đến xô xát nhau. Như vậy, việc anh L và chị H không có trách nhiệm chăm lo cho nhau là không thể hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn theo yêu cầu và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[4] Về con chung: Chị H, anh L có 03 con chung tên là Nguyễn Nhật Thiên T, sinh ngày 12/12/2009; Nguyễn Đức Anh N, sinh ngày 04/01/2013 và Nguyễn Đức Thiên P, sinh ngày 09/5/2022. Hiện nay các cháu đều đang ở với anh L, chị H.
Xét cháu Nguyễn Nhật Thiên T và cháu Nguyễn Đức Anh N đã trên 7 tuổi và đều có nguyện vọng được ở với chị H, cháu Nguyễn Đức Thiên P dưới 36 tháng tuổi; quá trình ghi lời khai, tiến hành phiên hòa giải anh L cũng không thể hiện yêu cầu được nuôi con. Vì vậy, để bảo đảm ổn định cuộc sống, việc học tập và quyền lợi mọi mặt, cần giao các cháu Nguyễn Nhật Thiên T, Nguyễn Đức Anh N và Nguyễn Đức Thiên P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên như yêu cầu của chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về Tài sản và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đức L; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao các cháu Nguyễn Nhật Thiên T, sinh ngày 12/12/2009; Nguyễn Đức Anh N, sinh ngày 04/01/2013 và Nguyễn Đức Thiên P, sinh ngày 09/5/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Đức L không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về Tài sản và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003370 ngày 02 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế; chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí, nay không phải nộp.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hương Lan |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn và tranh chấp nuôi con
