|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:53/2024/HSST Ngày: 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Tiến
Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thanh Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/HSST, ngày 27/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 03/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan T; Giới tính: Nam; sinh ngày 02/9/1991, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Cha: Phan N; Mẹ: Nguyễn T; Anh, chị, em ruột: 03, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994; Vợ: Cao M (chưa đăng ký kết hôn), con: có 01 người, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Phạm Tâm, sinh năm 1955; Địa chỉ: khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, thông qua mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội nên Phan T, sinh năm 1991 trú tại khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong biết được tại khu vực chợ Hòa Đa, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận có người bán ma túy đá. Khoảng 07 giờ ngày 24/01/2024 Phương một mình đi đến khu vực nêu trên gặp một người thanh niên không rõ lai lịch mua 200.000 đồng được một đoạn ống nhựa chứa ma túy đá, Phan T mang về nhà cất giấu. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày Phan T lấy một ít ma túy đá trong ống nhựa ra đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá để sử dụng, số còn lại trong ống nhựa Phan T hàn kín để tại vị trí chân tủ gỗ cạnh nơi Phan T đang ngồi. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày Phan T đang chuẩn bị sử dụng ma túy đá tại nhà thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Tuy Phong phối hợp với Công an thị trấn P kiểm tra phát hiện bắt quả tang Phan T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên nền nhà trong phòng khách nơi Phan T đang ngồi 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên bộ dụng cụ gắn ống thủy tinh không màu dài 11cm được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng chứa chất tinh thể màu nâu (được niêm phong trong phong bì số 01, gửi giám định ký hiệu M1); Thu giữ trên nền nhà tại vị trí chân tủ gỗ cạnh nơi Phan T đang ngồi 01 đoạn ống nhựa không màu hàn kín hai đầu kích thước (01 x 3) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng ( được niêm phong trong phong bì số 02, gửi giám định ký hiệu M2). Phan T khai nhận tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh và tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa là ma túy đá của Phan T mua về nhằm mục đích sử dụng.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1126 gam, là Methamphetamine.
Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,1079 gam, là Methamphetamine.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 50/CT – VKSTP - HS, ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phan T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 ống thủy tinh không màu, dài 11 cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu; 0,0421 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì dán giấy số 150/1; 01 đoạn ống nhựa không màu, kích thước (01 x 03) cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0367 gam mẫu M2 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì dán giấy số 150/2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/01/2024 tại khu vực nhà bị cáo tại khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong, Phan T đã tàng trữ 0,2205 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phan T thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân xét thấy rằng cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 ống thủy tinh không màu, dài 11 cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu, 0,0421 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 150/1; 01 đoạn ống nhựa không màu, kích thước (01 x 03) cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0367 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 150/2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, do đây là các vật không có giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo Phan T, do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Phan T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phan T 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 ống thủy tinh không màu, dài 11 cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu, 0,0421 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 150/1; 01 đoạn ống nhựa không màu, kích thước (01 x 03) cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0367 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 150/2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |
Nơi nhận:
|
4
Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 01 năm tù
