Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 53/2025/KDTM-ST

Ngày: 10 – 6 – 2025.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thanh Hương
  2. Ông Trần Ngọc Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025 và ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm, thụ lý số 23/2024/TLST-KDTM ngày 26/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 495/2025/QĐXXST-KDTM ngày 17/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 720/2025/QĐST-KDTM ngày 15/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1

Trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Tp ..

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh Đ, ông Bùi Thanh V (có mặt)

(Giấy uỷ quyền số 996/2025/UQN-TP ngày 20/5/2025)

Bị đơn: Công ty TNHH T.

Trụ sở: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn A – Chức danh: Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1954
  2. Địa chỉ: Số 174 Tân Sơn Nhì, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Bà Ngô Ngọc H, sinh năm 1957
  4. Địa chỉ: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà H là: Ông Ngô Văn K, sinh năm 1978

    Địa chỉ: Số C Đ, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy uỷ quyền ngày 25/6/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH T (sau đây gọi là Công ty T), vay vốn tại Ngân hàng TMCP V1 – Chi nhánh T1 (sau đây gọi là V2) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ, cụ thể như sau:

  1. Khế ước nhận nợ số: 130422-2558619-ONL-5 ngày 13/4/2022: Số tiền cho vay là 618.262.000 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 13/4/2022 đến ngày 13/4/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần;
  2. Khế ước nhận nợ số: 110522-2558619-ONL-6 ngày 11/5/2022: Số tiền cho vay là 634.785.800 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 11/5/2022 đến ngày 11/5/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần;
  3. Khế ước nhận nợ số: 020622-2558619-ONL-7 ngày 02/6/2022: Số tiền cho vay là 250.000.000 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 02/6/2022 đến ngày 02/6/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần;
  4. Khế ước nhận nợ số: 150622-2558619-ONL-8 ngày 15/6/2022: Số tiền cho vay là 495.558.000 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 15/6/2022 đến ngày 15/6/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần;
  5. Khế ước nhận nợ số: 270622-2558619-ONL-9 ngày 27/6/2022: Số tiền cho vay là 413.938.995 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 27/6/2022 đến ngày 27/6/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần;
  6. Khế ước nhận nợ số: 110722-2558619-ONL-10 ngày 12/7/2022: Số tiền cho vay là 121.133.402 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 12/7/2022 đến ngày 12/7/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  7. Khế ước nhận nợ số: 120722-2558619-ONL-11 ngày 12/7/2022: Số tiền cho vay là 273.000.000 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 12/7/2022 đến ngày 12/7/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 17%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  8. Khế ước nhận nợ số: 160822-2558619-ONL-12 ngày 16/8/2022: Số tiền cho vay là 423.794.116 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 16/8/2022 đến ngày 16/08/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 16,7%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  9. Khế ước nhận nợ số: 130922-2558619-ONL-13 ngày 14/9/2022: Số tiền cho vay là 361.700.000 đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 14/9/2022 đến ngày 14/9/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 16,7%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  10. Khế ước nhận nợ số: 071022-2558619-ONL-14 ngày 07/10/2022: Số tiền cho vay là 351.081.346 đồng. Thời hạn cho vay là 11 tháng từ ngày 07/10/2022 đến ngày 07/9/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 16,4%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  11. Khế ước nhận nợ số: 040123-2558619-ONL-16 ngày 05/01/2023: Số tiền cho vay là 757.000.000 đồng. Thời hạn cho vay là 8 tháng từ ngày 05/01/2023 đến ngày 05/09/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 19,5%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  12. Khế ước nhận nợ số: 110123-2558619-ONL-17 ngày 12/01/2023: Số tiền cho vay là 473.000.000 đồng. Thời hạn cho vay là 08 tháng từ ngày 12/01/2023 đến ngày 05/9/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 19,5%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân dầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  13. Khế ước nhận nợ số: 170223-2558619-ONL-18 ngày 17/02/2023: Số tiền cho vay là 437.758.400 đồng. Thời hạn cho vay là 07 tháng từ ngày 17/02/2023 đến ngày 16/9/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 19,5%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.
  14. Khế ước nhận nợ số: 170323-2558619-ONL-20 ngày 17/3/2023: Số tiền cho vay là 590.007.000 đồng. Thời hạn cho vay là 06 tháng từ ngày 17/3/2023 đến ngày 16/9/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 18,3%/năm. Cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần.

Tất cả khế ước nhận nợ trên điều có mục đích bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm may mặc, chi tiết: đồ lót, đồ ngủ.

Khoản vay trên được bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Nguyễn Văn A theo Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-02 ngày 08/10/2021 ký giữa ông Nguyễn Văn A, Công ty T, V2 và toàn bộ tài sản cá nhân của bà Ngô Ngọc H theo Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-01 ngày 08/10/2021 ký giữa bà Ngô Ngọc H, Công ty T, V2.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay nêu trên đã bị chuyển sang nợ quá hạn và chịu lãi suất nợ quá hạn từ ngày 15/4/2023. V2 đã nhiều lần liên hệ làm việc yêu cầu Công ty T thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, nhưng Công ty T, bà Ngô Ngọc H và ông Nguyễn Văn A đã cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Đối với khoản nợ trên thì Công ty Anh K, bà Ngô Ngọc H và ông Nguyễn Văn A đã thực hiện một phần nghĩa vụ trả nợ và còn có nghĩa vụ như sau:

  1. Khế ước nhận nợ số: 130422-2558619-ONL-5 ngày 13/4/2022 (LD2210300849); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 618.262.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 59.738.132 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 2.422.402 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 0 đồng;
  2. Khế ước nhận nợ số: 110522-2558619-ONL-6 ngày 11/5/2022 (LD2213100768); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 634.785.800 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 60.190.555 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 1.629.611 đồng, lãi quá hạn 12.906.084 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 351.817 đồng;
  3. Khế ước nhận nợ số: 020622-2558619-ONL-7 ngày 02/6/2022 (LD2215301576); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 21.258.911 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 650.050 đồng, lãi quá hạn 11.256.019 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 140.340 đồng;
  4. Khế ước nhận nợ số: 150622-2558619-ONL-8 ngày 15/6/2022 (LD2216601477); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 495.558.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 44.889.694 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 1.961.016 đồng, lãi quá hạn 61.541.409 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 423.365 đồng;
  5. Khế ước nhận nợ số: 270622-2558619-ONL-9 ngày 27/6/2022 (LD2217802062); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 413.938.995 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 35.167.834 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 1.644.952 đồng, lãi quá hạn 29.778.220 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 355.129 đồng;
  6. Khế ước nhận nợ số: 110722-2558619-ONL-10 ngày 12/7/2022 (LD2219300914); tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 121.133.402 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 10.718.771 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 0 đồng, lãi trong hạn 646.170 đồng, lãi quá hạn 20.516.846 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 139.502 đồng;
  7. Khế ước nhận nợ số: 120722-2558619-ONL-11 ngày 12/7/2022 (LD2219301427): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 192.958.111 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 24.157.039 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 80.041.889 đồng, lãi trong hạn 1.405.297 đồng, lãi quá hạn 55.306.666 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 303.390 đồng;
  8. Khế ước nhận nợ số: 160822-2558619-ONL-12 ngày 16/8/2022 (LD2222800748): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 370.904.817 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 33.737.327 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 52.889.299 đồng, lãi trong hạn 2.619.370 đồng, lãi quá hạn 86.262.147 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 565.497 đồng;
  9. Khế ước nhận nợ số: 130922-2558619-ONL-13 ngày 14/9/2022 (LD2225700743): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 180.849.996 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 26.718.167 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 180.850.004 đồng, lãi trong hạn 2.814.535 đồng, lãi quá hạn 108.457.977 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 607.631 đồng;
  10. Khế ước nhận nợ số: 071022-2558619-ONL-14 ngày 07/10/2022 (LD2228000667): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 159.582.430 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 22.988.893 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 191.498.916 đồng, lãi trong hạn 4.311.631 đồng, lãi quá hạn 109.900.441 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 930.840 đồng;
  11. Khế ước nhận nợ số: 040123-2558619-ONL-16 ngày 05/01/2023 (LD2300500915): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 189.250.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 24.800.066 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 567.750.000 đồng, lãi trong hạn 9.058.833 đồng, lãi quá hạn 340.276.686 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 1.955.715 đồng;
  12. Khế ước nhận nợ số: 110123-2558619-ONL-17 ngày 12/01/2023 (LD2301200865): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 118.250.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 14.941.632 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 354.750.000 đồng, lãi trong hạn 5.648.306 đồng, lãi quá hạn 212.568.630 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 1.219.415 đồng.
  13. Khế ước nhận nợ số: 170223-2558619-ONL-18 ngày 17/02/2023 (LD2304802777): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 62.536.914 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 6.184.206 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 375.221.486 đồng, lãi trong hạn 6.028.482 đồng, lãi quá hạn 224.855.331 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 1.301.491 đồng;
  14. Khế ước nhận nợ số: 170323-2558619-ONL-20 ngày 17/03/2023 (LD2307602033): tạm tính đến ngày 10/6/2025 Công ty đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 0 đồng. Tạm tính đến ngày 10/6/2025, Công ty còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 580.007.000 đồng, lãi trong hạn 8.578.540 đồng, lãi quá hạn 335.455.035 đồng, nợ lãi chậm trả lãi trong hạn 1.852.025 đồng;

Tạm tính đến hết ngày 10/6/2025, Công ty T, bà Ngô Ngọc H và ông Nguyễn Văn A còn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V2 các khoản sau:

Nợ gốc phải trả: 2.383.008.594 đồng;

Nợ lãi trong hạn: 46.996.793 đồng;

Nợ lãi quá hạn: 1.611.503.893 đồng;

Nợ lãi chậm trả trong hạn: 10.146.157 đồng;

Tổng cộng: 4.051.655.437 đồng.

Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết như sau:

1/. Buộc Công ty T phải trả ngay một lần cho V2 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 10/6/2025 là:

Nợ gốc phải trả: 2.383.008.594 đồng;

Nợ lãi trong hạn: 46.996.793 đồng;

Nợ lãi quá hạn: 11.611.503.893 đồng;

Nợ lãi chậm trả trong hạn: 10.146.157 đồng;

Tổng cộng: 4.051.655.437 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 11/6/2025, Công ty T vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V2.

2/. Trường hợp Công ty T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu nêu trên, ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ còn lại theo Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-01 ngày 08/10/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-02 ngày 08/10/2021.

Tại Bản tự khai ngày 27/6/2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Ngọc H có ông Ngô Văn K đại diện theo ủy quyền trình bày:

Căn cứ hợp đồng cho vay hạn mức giữa công ty T và Ngân hàng V1, ký ngày 03/01/2023, hạn mức vay 03 tỷ đồng, mục đích vay: bổ sung vốn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong năm 2023 đã trả được gần 300 triệu đồng nên dư nợ còn lại tính đến ngày 31/5/2024 là 2.744.890.000 đồng. Lý do doanh nghiệp chưa thể trả hết nợ là do tình hình sàn xuất kinh doanh hậu Covid gặp nhiều khó khăn nên chưa tất toán được khoản nợ trên.

Nay doanh nghiệp cũng đang cố gắng cùng gia đình bà Ngô Ngọc H và ông Nguyễn Văn A tìm đối tác góp vốn cổ phần và bán tài sản là 02 căn nhà mà công ty T đang sử dụng để trang trải cho các bên liên quan. Doanh nghiệp mong muốn Ngân hàng khoanh lãi để công ty T chỉ trả nợ gốc còn lại.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn Công ty Anh K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn Công ty T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Tại phiên Tòa:

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu bị đơn Công ty T thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ, tạm tính đến ngày 10/6/2025 là 4.051.655.437 đồng (nợ gốc 2.383.008.594 đồng, nợ lãi trong hạn 46.996.793 đồng; nợ lãi quá hạn 1.611.503.893 đồng và phạt chậm trả lãi là 10.146.157 đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, kể từ ngày 11/6/2025, Công ty T vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V2.

Trường hợp Công ty T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu nêu trên, ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ còn lại theo Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-01 ngày 08/10/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-02 ngày 08/10/2021.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/01/2024, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Công ty TNHH T thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ, đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo văn bản bảo lãnh đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng bảo lãnh” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Công ty TNHH T có trụ sở tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tiến hành tống đạt trực tiếp cho bị đơn Công ty TNHH T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hòa giải, giấy triệu tập tham gia hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa nhưng Công ty T K, ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H đều vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng.

Ngày 18/4/2025, ông Ngô Văn K là người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Ngọc H. Bà H uỷ quyền cho ông K tham gia tố tụng với 02 tư cách, vừa là người đại diện theo pháp luật của bị đơn công ty T, đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nộp cho Tòa án một bản sao y Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mã số doanh nghiệp: 0302729286; đăng ký lần đầu: ngày 26/9/2002, đăng ký thay đổi lần thứ 9: ngày 27/3/2025; tên công ty: Công ty TNHH T; người đại diện theo pháp luật của công ty: ông Nguyễn Văn A – Giám đốc.

Hội đồng xét xử nhận thấy: trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Văn K tham gia tố tụng tại Tòa với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Ngọc H. Đồng thời bà H còn là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T. Quyền và nghĩa vụ của Công ty T đều được ông K thông báo truyền đạt. Việc tại thời điểm khi vụ án được đưa ra xét xử, ông K thông báo có sự thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty T từ bà Ngô Ngọc H chuyển sang cho ông Nguyễn Văn A. Hội đồng xét xử nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án Công ty T, bà H và ông A đều được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nên các đương sự đều hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc thay đổi người đại diện pháp luật của Công ty T không làm thay đổi bản chất nội dung vụ án, không ảnh hưởng đến quyền lợi của công ty T.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt đối với bị đơn công ty T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H.

[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Công ty TNHH T thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ.

Hợp đồng cho vay hạn mức và các Giấy nhận nợ trên do nguyên đơn giao nộp và được công khai tại Tòa án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ này được xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án.

Hợp đồng và các Khế ước nhận nợ này là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên; xét về hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật, nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về số tiền nợ gốc: căn cứ các Khế ước nhận nợ nêu trên thì Công ty T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 2.383.008.594 đồng.

Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô Văn K là người đại diện theo ủy quyền của công ty T và bà Ngô Ngọc H, xác nhận thống nhất số tiền nợ gốc công ty T còn nợ Ngân hàng tại Biên bản không tiến hành hoà giải được ngày 10/4/2025 của Toà án nhân dân quận Tân Phú. Ngoài ra, ông A còn đề nghị nguyên đơn giảm tiền lãi cho công ty T. Do các bên đương sự đều thống nhất xác nhận về số tiền nợ gốc, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lãi suất: việc các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn (lãi suất nợ quá hạn) bằng 150% lãi suất trong hạn là đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 11 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng N); điểm b khoản 4 Điều 13 và Điều 25 Thông tư số 39/2016 /TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH T đã vi phạm là không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo thỏa thuận tại các Khế ước nhận nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 11/6/2025 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng cho vay hạn mức và các Khế ước nhận nợ là có căn cứ, cụ thể số tiền lãi trong hạn và quá hạn của các hợp đồng cho vay: lãi trong hạn 46.996.793 đồng; nợ lãi quá hạn 1.611.503.893 đồng và phạt chậm trả lãi là 10.146.157 đồng.

Tổng số tiền gốc là 2.383.008.594 đồng; tổng số tiền lãi trong hạn, quá hạn và phạt chậm trả lãi là 1.668.646.843 đồng. Tổng cộng số tiền là: 2.383.008.594 đồng + 1.668.646.843 đồng = 4.051.655.437 đồng.

Từ những nhận định trên, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi theo Hợp đồng cho vay hạn mức và các Khế ước nhận nợ.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Nhận xét về nghĩa vụ bảo lãnh:

Xét các hợp đồng bảo lãnh có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 335, 336, 339, 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên có hiệu lực và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết. Căn cứ Điều 2 của các Hợp đồng bảo lãnh nêu trên thì: “Bên bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên Ngân hàng như quy định tại Điều 1 của Hợp đồng này một cách vô điều kiện và không hủy ngang ngay khi xảy ra một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d, khoản 1 Điều này”. Trong trường hợp Công ty T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với Ngân hàng thì ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H phải thực hiện nghĩa vụ của Bên bảo lãnh theo thoả thuận quy định tại các Hợp đồng này.

Theo Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-02 ngày 08/10/2021 ký giữa ông Nguyễn Văn A, Công ty T, V2 và Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-01 ngày 08/10/2021 ký giữa bà Ngô Ngọc H, Công ty T, V2 thể hiện: ông A và bà H đồng ý bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang, thay cho Công ty T thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai trả nợ với Ngân hàng TMCP V1 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, các khoản phí khác) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ giữa công ty T và Ngân hàng TMCP V1, trong trường hợp Công ty T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ.

Xét các hợp đồng bảo lãnh có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 335, 336, 339, 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khi ký kết hợp đồng bảo lãnh người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết. Căn cứ Điều 2 của các Hợp đồng bảo lãnh nêu trên thì: “Bên bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên Ngân hàng như quy định tại Điều 1 của Hợp đồng này một cách vô điều kiện và không hủy ngang ngay khi xảy ra một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d, khoản 1 Điều này”. Trong trường hợp Công ty T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với Ngân hàng thì ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H phải thực hiện nghĩa vụ của Bên bảo lãnh theo thoả thuận quy định tại các Hợp đồng này.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiển sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên Công ty TNHH T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.051.655 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí 50.588.024 đồng cho Ngân hàng TMCP V1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 93, 94, 95; Điều 179; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các Điều 264, 266, 267, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 295, 299, 301, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 335, 336, 342, 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng;
  • - Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng N về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N;
  • - điểm b khoản 4 Điều 13 và Điều 25 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 đối với Công ty TNHH T.

Buộc Công ty TNHH T thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền tính đến ngày 10/6/2025 là 4.051.655.437 đồng (nợ gốc 2.383.008.594 đồng, nợ lãi trong hạn 46.996.793 đồng; nợ lãi quá hạn 1.611.503.893 đồng và phạt chậm trả lãi là 10.146.157 đồng) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số EMH/22153 ngày 03/01/2023 và các Khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V1 và Công ty TNHH T.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thời hạn thanh toán: Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Công ty TNHH T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP V1, thì Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-01 ngày 08/10/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số EMH/21055/HDBL-02 ngày 08/10/2021 được xử lý theo quy định tại Điều 335, 336, 339 và Điều 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Buộc Công ty TNHH T phải nộp số tiền án phí là 112.051.655 đồng.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 50.588.024 đồng cho Ngân hàng TMCP V1 theo biên lai thu số 0007642 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP V1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty TNHH T, ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Ngọc H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Q. Tân Phú;
  • - THADS Q. Tân Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/KDTM-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 53/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger