|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HÀ NỘI Bản án số: 53/2025/HSST; Ngày: 27/10/2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen.
Ông Trần Mạnh Khang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐHPT-TA ngày 23/10/2025, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Dũng T, sinh năm 1983 tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Cụm I, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là Cụm I T, xã Ô, thành phố Hà Nội); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Xuân T1 và con bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị H; con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1987; Địa chỉ: Cụm A T, xã Ô, thành phố Hà Nội
Vắng mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Cụm I T, xã Ô, thành phố Hà Nội;
Có mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; Địa chỉ: Cụm I T, xã Ô, thành phố Hà Nội;
Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Dương Văn T2, sinh năm 1998; Địa chỉ: Vống G, B, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2024, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Nguyễn Văn D (sinh năm 1989, trú tại cụm D T, xã Ô, thành phố Hà Nội) đã thoả thuận bán chiếc xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA FRONTIER màu xanh, biển kiểm soát 29K - 001.62 cho Nguyễn Dũng T (sinh năm 1983, trú tại cụm A, xã Ô, thành phố Hà Nội) với giá là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) kèm theo những mối khách hàng cũ của anh D để tiếp tục chở hàng. Do T không có tiền mua xe ô tô nên T hỏi vay tiền anh Nguyễn Tiến P (sinh năm 1987, trú tại cụm A, xã Ô, thành phố Hà Nội), tuy nhiên anh P không cho vay tiền mà T và P đã thoả thuận với nhau là anh P mua chiếc xe ô tô trên của D với giá là 280.000.000đ, còn T trả 20.000.000đ để mua lại các mối khách hàng cũ của anh D, sau đó T sẽ thuê lại chiếc xe ô tô trên của anh P với giá là 6.000.000đ/tháng để tiếp tục đi chở hàng. Anh P đã mua lại chiếc xe ô tô trên của D với số tiền 280.000.000đ và đăng ký chính chủ xe ô tô đổi biển số xe thành 29K-194.35. Ngày 14/11/2024, anh P và T ký kết hợp đồng thuê xe thời hạn 03 tháng, từ ngày 14/11/2024 đến ngày 14/02/2025 với giá là 6.000.000đ/tháng, T sử dụng giấy kiểm định xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, còn đăng ký xe bản gốc thì anh P giữ, khi nào đi xa thì anh P đưa cho T mượn, xong việc thì trả lại anh P, hai bên đã thanh toán tiền thuê xe cho nhau. Đến ngày 14/02/2025, P và T làm tiếp hợp đồng thuê xe ô tô nêu trên, thời hạn 01 tháng, kể từ ngày 14/02/2025 đến ngày 14/3/2025. Sau khi thuê xe, T tiếp tục sử dụng để đi chở hàng. Đến ngày 16/02/2025, do cần tiền nên T mang xe ô tô của anh P đi cầm cố. T nhờ anh Nguyễn Minh T3 (sinh năm 1998, trú tại thôn N, xã Ứ, thành phố Hà Nội là bạn của T) giới thiệu anh Dương Văn T2 (sinh năm 1998, trú tại thôn V, xã B, thành phố Hà Nội) để T mang xe ô tô trên cầm cố cho anh T2 tại cửa hàng điện thoại, địa chỉ 6 Đ, M, phường T, thành phố Hà Nội với số tiền 115.000.000 đồng. Đến ngày 18/02/2025, T đã tiêu sài cá nhân hết tiền, không có khả năng trả nợ nên T đã về nhà báo với gia đình, chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1981 là vợ của T) đã chuyển khoản cho anh T2 số tiền 115.000.000 đồng để trả nợ cho T và lấy xe ô tô về (do mới vay tiền được 2 hôm nên anh T2 không lấy tiền lãi). Đến ngày 23/02/2025, T mượn đăng ký xe ô tô của P lấy lý do đi chở hàng xa. Đến ngày 25/02/2025, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã mang chiếc xe ô tô trên tiếp tục cầm cố cho anh T2 với số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) với thời hạn 10 ngày (không thỏa thuận về lãi suất, mà thống nhất khi trả tiền thì T đưa cho anh T2 bao nhiêu thì anh T2 cầm), T đã sử dụng số tiền trên để đánh bạc trên mạng (T không nhớ đánh gì, đánh bao nhiêu tiền, đánh với ai, do phần mềm đánh bạc đã bị khóa) và chi tiêu cá nhân hết. Anh T2 cầm chiếc xe ô tô trên gửi ở bãi xe ô tô, địa chỉ: Đ, phường M, thành phố Hà Nội. Sau 20 ngày không thấy T đến lấy xe, do tiền gửi xe tại M 1 cao nên anh T2 mang về gửi nhờ ở nhà anh Nguyễn Quang H1 (sinh năm 1995, trú tại thôn P, M, B, Hà Nội là bạn của anh T2). Đến ngày 03/3/2025, anh P đi qua nhà T thấy không có xe ô tô để ở cổng nhà T, nghi ngờ T mang xe ô tô đi cầm cố nên anh P đã nhắn tin zalo cho T để đòi lại xe ô tô và bảo T không được cắm xe ô tô, mang ngay xe ô tô về trả cho anh P. Ngày 04/4/2025, T đã gọi điện thoại cho anh P và nói đã mang chiếc xe của anh P đi cầm cố rồi, nhưng chưa có tiền để lấy xe ô tô về trả, nhưng anh P không đồng ý và tiếp tục yêu cầu T phải mang ngay xe ô tô về trả ngay. Sau đó, anh P liên tục gọi điện thoại, nhắn tin qua tin nhắn, ứng dụng zalo cho T để yêu cầu T mang xe ô tô về trả cho anh P, nhưng T không trả lời rồi tắt nguồn. T gọi điện về gia đình để chuộc xe ô tô nhưng gia đình T không có tiền nên T trốn không về nhà. Quá thời hạn thuê xe ô tô không thấy T mang xe ô tô về, không liên lạc được với T nên ngày 24/3/2025, anh P đã đến Công an xã T để trình báo sự việc trên. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập T nhưng T vắng mặt tại địa phương, gia đình T không biết T đi đâu làm gì. Đến ngày 10/5/2025, bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1955 là mẹ đẻ của T) đã đưa cho chị H số tiền 200.000.000đ là tiền cá nhân của bà L để vợ chồng T đi chuộc xe ô tô về trả cho anh P, anh T2 đã nhận 200.000.000 đồng và 1.000.000 đồng tiền gửi xe, còn tiền lãi thì anh T2 không lấy và trả lại xe ô tô cho vợ chồng T. Ngày 12/5/2025, T đã giao nộp chiếc xe ô tô trên cùng toàn bộ giấy tờ của xe gồm 01 xe ô tô, biển kiểm soát 29K-194.35; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, chủ xe Nguyễn Tiến P (bản gốc); 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (bản gốc); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô của xe ô tô trên (bản gốc) cho cơ quan công an.
Ngày 14/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Kia Frontier, màu xanh, biển kiểm soát 29K-194.35, số khung: RNHA39KHALT029353, số máy: LD000263D4CB, sản xuất năm 2020, xe ô tô đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá số 20/KL-HĐ ĐGTS ngày 27/5/2025, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự đã kết luận giá trị của 01 chiếc xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Kia Frontier, màu xanh, biển kiểm soát 29K-194.35 là: 196.600.000đ (Một trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe ô tô, biển kiểm soát 29K-194.35;
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, chủ xe Nguyễn Tiến P;
- - 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường;
- - 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô của xe ô tô trên.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án và quá trình tố tụng tại tòa anh Nguyễn Tiến P đã nhận lại xe không đề nghị gì về dân sự. Bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H không đề nghị gì về dân sự liên quan đến số tiền đã trả thay cho T.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Dũng T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSKV8 ngày 30 tháng 09 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Dũng T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng, điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng T từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Do cần tiền để tiêu sài nên ngày 25/02/2025, tại số nhà F Đ, M, phường T, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Dũng T đã có hành vi cầm cố cho anh Dương Văn T2 chiếc ô tô thuộc sở hữu của anh Nguyễn Tiến P (anh P cho T thuê ô tô để chở hàng bằng Hợp đồng cho thuê có thời hạn) để lấy số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), sau khi nhận được tiền, T đã tiêu sài cá nhân hết. Đến thời hạn phải trả xe cho anh P, T không có tiền trả anh T2 để lấy xe ra nên đã bỏ trốn khỏi địa phương.
[3]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Dũng T là hành vi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
[4]. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Dũng T cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
[5]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Vì vậy Tòa án cần xét xử nghiêm minh đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo Nguyễn Dũng T đã lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Tiến P là chiếc xe ô tô có giá trị là 196.600.000đ (một trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân, hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo T đã thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khu vực 8 – Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 175, Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng T hình phạt tù là có căn cứ; do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
[11] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Ghi nhận người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về dân sự.
[12] Về xử lý vật chứng: Ngày 26/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả cho anh Nguyễn Tiến P xe ô tô BKS 29K-194.35 cùng toàn bộ giấy tờ xe.
[13]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[14]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dũng T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.
* Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại tiền.
* Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Dũng T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND.TP. Hà Nội; - VKKV8.TP.Hà Nội; - Công an xã Ô Diễn; - Chi cục THADSKV8; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp TP. Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Anh |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
7
Bản án số 53/2025/HSST ngày 27/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 53/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
