|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HSST
Ngày: 19/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Lý Xuân Nhất- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/HSST ngày 06/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 06/6/2025 đối với bị cáo:
Phạm Phan Phú N - sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: tổ B, Hải Dương, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Phạm Phú S (Đã chết) và con bà Phan Thị L; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Tuấn S1 – sinh năm: 2001 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện M, TP .
- + Anh Nguyễn Tuấn A – sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Phố L, TT. V, huyện Ứ, TP .
- + Anh Vũ Văn T – sinh năm: 1989 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn V, TT. Đ, huyện M, TP .
- + Ông Trịnh Thế D – sinh năm: 1970 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn E, xã P, huyện M, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Phan Phú Nghĩa là người không có việc làm cố định, ra Hà Nội thuê trọ cùng với anh họ là Nguyễn Viết T1 và Lê Thị Ngọc L1 (người yêu của T1) tại số nhà A, ngõ A, thôn E, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Để có tiền phục vụ cuộc sống, N làm các công việc do T1 giao. Khoảng 01 giờ ngày 27/12/2024 Nguyễn Tuấn S1 đi đến khu vực phố T, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội gặp một người nữ giới tên U (không rõ địa chỉ), nhờ mua hộ 02 túi ma tuý ke và 01 viên ma tuý kẹo, mục đích để sử dụng. U đồng ý và gọi điện thoại cho người bán ma tuý. Sau đó U bảo S1 chuyển số tiền 4.900.000 đồng mua ma tuý vào số tài khoản 9395139697 tên LE THI NGOC LAN, mở tại ngân hàng V. Do không sử dụng tài khoản nên S1 gọi điện cho Nguyễn Tuấn A nhờ chuyển tiền vào số tài khoản trên. Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 27/12/2024, Nguyễn Viết T1 gọi điện bảo Phạm Phan Phú N đi cùng với Lê Thị Ngọc L1 mang ma tuý bán cho khách. Sau đó L1 gọi điện thoại cho Vũ Văn T - là lái xe chở L1 và N đi. Lúc lên xe L1 đưa cho N 01 hộp giấy thuốc ghi chữ MIKFEPRIS 10 bên trong có ma túy. Khi đến phố T, thị trấn V, huyện Ứ, xe taxi dừng lại trước cửa nhà nghỉ P, L1 bảo N xuống xe giao ma túy cho khách; tuy nhiên, N chưa kịp bán ma túy thì bị tổ công tác kiểm tra, L1 và U bỏ chạy thoát. Thu giữ của Phạm Phan Phú N 01 hộp giấy thuốc ghi chữ MIKFEPRIS 10 bên trong có 02 túi nilon màu đen, trong đó: 01 túi kích thước khoảng (4x3)cm chứa tinh thể màu trắng; 01 túi chứa 01 viên nén hình tam giác màu xám kích thước khoảng (3x2)cm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.
Thu giữ, tạm giữ:
- - 01 hộp giấy thuốc ghi chữ MIKFEPRIS 10 bên trong có 02 túi nilon màu đen, trong đó: 01 túi kích thước khoảng (4x3)cm chứa tinh thể màu trắng, 01 túi chứa 01 viên nén hình tam giác màu xám kích thước khoảng (3x2)cm và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen (thu của Phạm Phan Phú N).
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen (thu của Nguyễn Tuấn S1).
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh (thu của Vũ Văn T).
Ngày 27/12/2024 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2101/QĐ-ĐCSKT-MT đối với vật chứng thu giữ của Phạm Phan Phú N.
Tại bản kết luận giám định số 218/KLGĐ-KTHS ngày 05/01/2025 của phòng K Công an thành phố H kết luận:
- “* Mẫu A1 gồm:
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông màu đen là ma tuý loại Ketamin, khối lượng: 2,367 gam.
- - 01 viên nén hình tam giác màu xám bên trong 01 túi ni lông là ma tuý loại MDMA, khối lượng: 0,583 gam”.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 04/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Phạm Phan Phú N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: bị cáo N từ 36 đến 42 tháng tù, thời điểm tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: tịch thu tiêu huỷ số ma tuý gửi lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại thu giữ của Phạm Phan Phú N và 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Tuấn S1. Trả lại cho anh Vũ Văn T 01 điện thoại thu giữ của anh T. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HÌnh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
- Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 27/12/2024, tại phố T, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Phạm Phan Phú N, cùng Lê Thị Ngọc L1 mang theo 2,367 gam Ketamin và 0,583 gam MDMA để bán cho Nguyễn Tuấn S1. Khi N chưa kịp giao ma túy cho S1 thì bị tổ công tác Công an huyện Ứ, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Phan Phú N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
-
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Đối với nguồn gốc số ma túy:
Đối với Nguyễn Tuấn S1, nhờ người phụ nữ tên U mua hộ ma tuý, mục đích để sử dụng. Nhưng S1 chưa lấy được ma tuý, nên hành vi của S1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 20/5/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H có Công văn 2549/CV-CSĐT đề nghị UBND xã P, huyện M, thành phố Hà Nội lập hồ sơ đưa S1 vào diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Tuấn A, được S1 nhờ chuyển 4.900.000 đồng vào tài khoản 9395139697, tên LE THI NGOC LAN, mở tại ngân hàng V vào ngày 27/12/2024, nhưng không biết việc S1 mua ma tuý, nên không phạm tội. Việc Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với Nguyễn Tuấn A là có cơ sở.
Đối với Vũ Văn T, ngày 27/12/2024 được L1 thuê chở L1 và N từ P, huyện M, thành phố Hà Nội đến T, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Thiệu không biết việc L1 và N đi bán ma tuý, nên không phạm tội. Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với T là đúng quy định.
Đối với ông Trịnh Thế D, cho T1, N, L1 thuê phòng trọ, nhưng không biết việc phạm tội của họ, nên Cơ quan điều tra không để nghị xử lý gì là có căn cứ.
Đối với Lê Thị Ngọc L1, ngày 24/01/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can số 36/QĐ-ĐCSKT-MT và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam số 60/LB-ĐCSKT-MT, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội, L1 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 21/5/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Quyết định số A7749/QĐTN-CSMT truy nã đối với L1, nhưng chưa bắt được.
Đối với Nguyễn Viết T1, vắng mặt tại địa phương, ở đâu, làm gì không ai nắm được. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập để làm việc, nhưng T1 không đến, nên chưa làm rõ được hành vi phạm tội của T1; đối với người nữ giới tên U, liên hệ mua ma túy hộ S1. Do S1 không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, trong khi đó bị can L1 đang bỏ trốn, nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được đối tượng.
Ngày 21/5/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Quyết định tách vụ án hình sự số A7748/QĐ-CSMT tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị can Lê Thị Ngọc L1, Nguyễn Viết T1 và đối tượng nữ giới tên U để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư đề C; Công an huyện Ứ; Tên đối tượng Phạm Phan Phú N, sinh năm 2000, chỗ ở hiện tại: P, M, Hà Nội; ngày niêm phong 27/12/2024, mặt bên của phong bì có chữ ký của Giám định viên, đối tượng Phạm Phan Phú N, cán bộ điều tra tại các mép niêm phong.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen (thu của Phạm Phan Phú N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen (thu của Nguyễn Tuấn S1) đã được hai đối tượng sử dụng vào việc mua bán ma tuý do đó cần tịch thu hoá giá sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu của Vũ Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh T là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Phan Phú N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Xử phạt bị cáo Phạm Phan Phú N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Phan Phú N.
-
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn đề Công an T. Đơn vị: Cong an huyện Ứ, tên đối tượng: Phạm Phan Phú N. Sinh năm: 2000. Chỗ ở hiện tại: số A, ngõ A, P, M, Hà Nội. Mặt bên của phong bì có chữ ký giám định viên Nguyễn Thanh B, chữ ký đối tượng Phạm Phan Phú N, chữ ký của cán bộ điều tra Nguyễn Hà M và hình dấu Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong.
- - Tịch thu hoá giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen đã cũ (tạm giữ của Phạm Phan Phú N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG màu đen đã cũ (tạm giữ của Nguyễn Tuấn S1);
- - Trả lại anh Vũ văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ (Tạm giữ của Vũ Văn T.).
(Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 18/6/2025).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Minh |
|
Thành viên hội đồng xét xử |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 53/2025/HSST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
