Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 6 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và ông Trần Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Khưu Trường D, sinh ngày 16/10/2006. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khưu Phước T, sinh năm 1977 và bà Bùi Thị Mỹ D1, sinh năm 1987; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1981; bị cáo chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2025, đến ngày 23/02/2025 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Võ Đắc T1, sinh ngày 01/01/1980. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đắc T2, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961; vợ: Mai Dạ T3, sinh năm 1976; con có 03 người, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2025, đến ngày 23/02/2025 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Tiêu Anh K, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Huỳnh Hoàng A (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 14/02/2025, Khưu T rủ Võ Đắc T1 tìm xe mô tô trộm bán lấy tiền đi Bình Dương, T1 đồng ý. Thực hiện ý định, D sử dụng xe mô tô biển số 67M1-797.99 của D chở T1 đến ấp P, xã A, huyện T, khi đi qua nhà của Tiêu Anh K, cả hai thấy xe mô tô biển số 61B1-241.15 đang dựng bên trong sân nhà, chìa khóa còn cắm trên ổ khóa nên D dừng xe để T1 bên ngoài cảnh giới, D đi vào sân bật công tắc nổ máy điều khiển xe mô tô biển số 61B1-241.15 chạy về hướng Lộ tẻ T, An Giang còn T1 điều khiển xe của D theo sau. Khi đến tiệm mua bán xe “Huy Hoàng” thuộc ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, D đổi xe vừa lấy trộm được cho T1 mang vào bán cho anh Huỳnh Hoàng A là chủ tiệm xe “Huy Hoàng” thì bị Công an xã B, huyện C phát hiện, đồng thời lực lượng kiểm tra trong ba lô của T1 có 02 bọc nilong trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nên Lực lượng mời D và T1 về trụ sở Công an xã B làm việc. Tại đây, D và T1 khai nhận hành vi lấy trộm xe mô tô nói trên.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 67M1-797.99, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, số khung 471468, số máy 408891; 01 xe mô tô biển số 61B1-241.15, nhãn hiệu Honda, số máy 4288718, số khung 579454.

Ngày 28/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đã trả cho anh Tiêu A1 Kiến xe mô tô biển số 67B1-241.15, nhãn hiệu Honda.

Theo Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: “01 xe mô tô biển số 67B1-241.15, nhãn hiệu Honda, số máy 4288718, số khung 579454, trị giá 5.000.000 đồng”.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSTS, ngày 09/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố các bị cáo Khưu Trường D, Võ Đắc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Khưu Trường D và Võ Đắc T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại Tiêu Anh K, Ngô Xuân H (vợ anh K) trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Kiến đã nhận lại xe mô tô biển số 67B1-241.15 và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người làm chứng Huỳnh Hoàng A cho biết, ngày 14/02/2025 D và T1 đến Cửa hàng H1 do anh làm chủ kêu bán xe mô tô biển số 67B1-241.15, nghi ngờ tài sản do phạm tội mà có nên anh trình báo Công an như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Khưu Trường D từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Võ Đắc T1 mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật. Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh các bị cáo khó khăn, không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại và người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 14/02/2025 tại ấp P, xã A, huyện T, Khưu T và Võ Đắc T1 đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô 61B1-241.15 của anh Tiêu Anh K, trị giá 5.000.000 đồng.

Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Khưu Trường D, Võ Đắc T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài, không phải lao động, các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ phạm tội các bị cáo gây ra.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít ngiêm trọng; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn đã được trả lại cho chủ sở hữu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy, các bị cáo Khưu T, Võ Đắc T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Điều đó, cho thấy các bị cáo xem thường pháp luật nên áp dụng hình phạt nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, chuẩn bị trước mà nhất thời phạm tội và cùng nhau thực hiện tội phạm nên trách nhiệm hình sự các bị cáo như nhau. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 67M1-797.99, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, số khung 471468, số máy 408891 các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tiêu Anh K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập giải quyết.

[10] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Khưu Trường D, Võ Đắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Khưu Trường D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 02 năm 2025.

Xử phạt bị cáo Võ Đắc T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 02 năm 2025.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-797.99, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, số khung 471468, số máy 4088919 (đã qua sử dụng) (theo quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKSTS ngày 09/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Khưu Trường D và Võ Đắc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Phân trại Tạm giam khu vực Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khưu Trương D và ĐP phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger