Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 28 - 5 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Nơi và ông Trương Đăng Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toan, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Vũ Đình T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1984 tại huyện H, Thái Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình X và bà Tô Thị T1 (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Bản án số 33/2010/HSST ngày 15/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong án phạt tù, đã chấp hành xong án phí ngày 12/5/2011, chưa bồi thường thiệt hại. Bản án số 01/2012/HSST ngày 10/01/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà và Bản án số 18a/2012/HSPT ngày 06/3/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/7/2014, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 9/2012

và án phí hình sự phúc thẩm tháng 8/2013, chưa bồi thường thiệt hại Bản án số 01/2015/HSST ngày 09/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xử phạt 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 19/9/2016, đã chấp hành xong án phí ngày 12/3/2015. Bản án số 82/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 02/12/2018, đã nộp án phí tháng 10/2023, chưa bồi thường thiệt hại. Bản án số 14/2020/HSST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 22/5/2022, chấp hành xong án phí tháng 7/2020. Bản án số 95/2022/HSST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt chính ngày 01/12/2023, chưa chấp hành án phí của bản án..

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 197 ngày 14/5/2007 của Công an huyện H phạt tiền 500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 14/5/2007. Bản án số 36/2007/HSST ngày 19/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong bản án ngày 23/02/2008. Quyết định xử phạt hành chính số 290 ngày 12/10/2014 của Công an huyện H phạt cảnh cáo về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H, Công an tỉnh T. (có mặt)

* Bị hại: UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Quyền Chủ tịch UBND thị trấn H.

Người đại diện theo uỷ quyền và người là chứng: Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng: Anh Đỗ Mạnh R, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Ông T2, anh T3, anh R đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Đình T đã có 05 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 21 giờ ngày 05 tháng 02 năm 2025, bị cáo mang theo một đèn pin, một tuốc nơ vít và một xà cầy, đi bộ từ nhà đến đền M ở Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (do anh Đỗ Văn T3 được giao quản lý, trông coi), mục đích để trộm cắp tài sản. Quan sát thấy đền ở nơi vắng vẻ, xa khu dân cư, không có người trông coi nên bị cáo đã đi bộ vào cửa đền, luồn xà cầy vào ổ khóa cậy nhiều lần làm vỡ bung ổ khóa. Sau đó, bị cáo mở cửa đi vào, dùng đèn pin soi và lấy trên đĩa bày hoa quả trên ban thờ số tiền 70.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng) cho vào túi quần bên phải. Phát hiện trong cung cấm có camera an ninh, bị cáo cầm xà cầy đi ra kiểm tra thấy không có người nên đã để xà cầy ở ngoài, mở cửa cung cấm đi vào, luồn tuốc nơ vít vào khe cánh của hai tủ kính đựng tiền công đức (ở hai bên ngay trước ban thờ), cậy mạnh nhiều lần thì mở được cánh tủ. Bị cáo dùng tay phải lấy trong mỗi tủ số tiền 300.000 đồng (gồm một tờ mệnh giá 200.000 đồng và hai tờ mệnh giá 50.000 đồng) cho vào túi quần bên trái, lấy bên dưới ban thờ một bao thuốc lá Thăng Long trị giá 10.000 đồng và trên tủ kính bên trái ban thờ một bao thuốc là 555 trị giá 13.000 đồng cho hết vào túi quần bên trái. Sau đó bị cáo đi ra ngoài lấy xà cầy để đi thì bị Công an thị trấn H cùng quần chúng nhân dân phát hiện, thu trên người bị cáo toàn bộ số tiền và 02 bao thuốc lá vừa trộm cắp được cùng các vật chứng khác.

Ngày 07/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo tại thôn D, xã T, huyện H, không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội.

- Bản kết luận giám định số 172 ngày 25/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 09 tờ tiền cần giám định là tiền thật;

- Bản kết luận giám định số 171 ngày 26/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 02 tập tin video gửi giám định; Đặc điểm, hành vi của những người, vật xuất hiện trong tập tin trên được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo kết luận;

- Bản kết luận định giá tài sản số 11a ngày 28/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện H, kết luận: 01 ổ khoá kim loại màu trắng nhãn hiệu Viettiep (khoá chống cắt), giá trị định giá: 171.000

đồng; 01 bao thuốc nhãn hiệu 555 chưa qua sử dụng, giá trị định giá: 13.000 đồng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long chưa qua sử dụng, giá trị định giá: 10.000 đồng.

Cáo trạng số 51/CT-VKSHH ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Vũ Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Đình T khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Đình T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 02 năm 2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen dài 77cm, đường kính thân 02 cm; 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu đen cam dài 26cm và 01 đèn pin màu đen, dài 9,4cm, đường kính 02cm, đều đã qua sử dụng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555, chưa sử dụng, đã cũ; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, chưa sử dụng, đã cũ; 01 chiếc khẩu trang màu đen; 01 chiếc áo khoác, có mũ màu đen; 01 chiếc quần vải dài màu nâu đều đã qua sử dụng; 01 mảnh kim loại màu trắng; trả lại bị hại: 01 ổ khóa nhãn hiệu VIET TIEP bằng kim loại màu trắng bị vỡ một phần, hư hỏng; trả lại bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

Bị cáo Vũ Đình T đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Vũ Đình T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đại diện của bị hại và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[3] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của đại diện bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, các kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 49 phút đến 00 giờ 55 phút ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại đền M ở Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình do anh Đỗ Văn T3 được giao quản lý, trông coi, bị cáo Vũ Đình T có 05 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã có hành vi trộm cắp số tiền 670.000 đồng, một bao thuốc lá Thăng Long trị giá 10.000 đồng, một bao thuốc 555 trị giá 13.000 đồng trong khu vực cấm cung của đền, bị Công an thị trấn H, huyện H phát hiện, bắt giữ. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 693.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...”

Hành vi trên của Vũ Đình T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đình T, thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu, gây tâm lý lo lắng cho chủ sở hữu và người quản lý tài sản trong việc trông coi, quản lý tài sản. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng do lười lao động lại muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm thể hiện sự coi thường pháp luật, vì vậy việc xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết, đồng thời áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Năm 2015 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Hưng Hà kết án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, do bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[7] Khoản 5 Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại đại diện của bị hại là anh Đỗ Văn T3 số tiền bị trộm cắp là 670.000 đồng. Anh T3 đã nhận lại toàn bộ số tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác. Đối với ổ khóa cửa nhãn hiệu Việt Tiệp và cánh cửa tủ kính hòm công đức bị T3 dùng xà cầy, tuốc nơ vít cạy nhưng giá trị nhỏ, ổ khoá bị hư hỏng nhưng vẫn sử dụng được, cánh cửa tủ kính hòm công đức không bị hư hỏng, anh Đỗ Văn T3 không yêu cầu xử lý, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không có cơ sở xử lý T3 về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về bồi thường thiệt hại.

[9] Về xử lý vật và tài sản:

- Đối với 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen dài 77cm, đường kính thân 02 cm; 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu đen cam dài 26cm và 01 đèn pin màu đen, dài 9,4cm, đường kính 02cm là công cụ, phương tiện phạm tội; 01 chiếc khẩu trang màu đen; 01 chiếc áo khoác, có mũ màu đen; 01 chiếc quần vải dài màu nâu, đều đã qua sử dụng là đồ vật, tài sản thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555, chưa sử dụng, đã cũ; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, chưa sử dụng, đã cũ là tài sản bị cáo trộm cắp được, không còn giá trị sử dụng; 01 mảnh kim loại màu trắng là mảnh vỡ từ ổ khoá VIETTIEP bị phá không có giá trị sử dụng, anh Đỗ Văn T3 không đề nghị nhận lại, nên cân tịch thu, tiêu huỷ.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo đề nghị được nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo.

- 01 ổ khóa nhãn hiệu VIET TIEP bằng kim loại màu trắng bị vỡ một phần, anh Đỗ Văn T3 đề nghị xin lại nên cần trả lại cho bị hại.

[10] Bị cáo Vũ Đình T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 02 năm 2025.

3. Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen dài 77cm, đường kính thân 02 cm; 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu đen, cam dài 26cm và 01 đèn pin màu đen, dài 9,4cm, đường kính 02cm, đều đã qua sử dụng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555, chưa sử dụng đã cũ; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long chưa sử dụng đã cũ; 01 chiếc khẩu trang màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác có mũ màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc quần vải dài màu nâu đã qua sử dụng; 01 mảnh kim loại màu trắng;

- Trả lại anh Đỗ Văn T3: 01 ổ khóa nhãn hiệu VIETTIEP bằng kim loại màu trắng bị vỡ một phần, hư hỏng;

- Trả lại bị cáo Vũ Đình T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng.

(Toàn bộ vật chứng, tài sản đã được chuyển đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 21 tháng 4 năm 2025).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Đình T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 5 năm 2025). Đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự;

thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Bị cáo;

- Đại diện của bị hại;

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;

- Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình/ Phân trại tạm giam khu vực Hưng Hà, Công an tỉnh Thái Bình;

- Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Đình Thắng phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger