|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày 27 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lan
- Ông Nguyễn Văn Kền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hạ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Quốc Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 27 tháng 10 năm 2002 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Khu G, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: đầu bếp; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Vũ Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1999; nơi cư trú: tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Anh Vũ Đình D, sinh năm 2001; nơi thường trú: tổ A, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam Công an tỉnh Q; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1987; tổ I, khu E, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Lưu Văn T1, anh Nguyễn Hoàng N; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc Q quen biết Vũ Đình D, Hoàng Văn H1. Q biết D và H1 sử dụng ma túy Cần sa, D và H1 biết Q có ma tuý Cần sa bán. Từ ngày 06/8/2024 đến ngày 05/9/2024, trên địa bàn thành phố H, Trần Quốc Q đã nhiều lần bán trái phép ma tuý Cần sa cho H1 và D, cụ thể:
Lần thứ nhất: khoảng 12 giờ ngày 06/8/2024, H1 sử dụng tài khoản Telegram “Bin Bin” liên lạc với tài khoản “Trần sĩ quân Q” của Q để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý Cần sa. Q đồng ý bán, yêu cầu H1 chuyển khoản tiền mua ma túy và hẹn đến khu vực Bến xe Bãi C nhận ma tuý. Sau đó, H1 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng thương mại Cổ phần C (V), số [...] mang tên HOANG VAN HONG đến tài khoản Ngân hàng thương mại Cổ phần N1 (V1), số 9762428002 mang tên TRAN QUOC QUAN. Sau khi nhận được tiền, Q lấy 01 túi ma túy Cần sa cho vào 01 chiếc hộp giấy tròn có nắp, dán kín bên ngoài, trên nắp hộp ghi chữ: “bến xe bãi cháy 0866945687 em hồng” rồi đi ra khu vực cổng chào Tuần Châu gửi xe buýt Q - H (không nhớ biển số xe) đến bến xe Bãi Cháy. H1 đi đến khu vực bến xe Bãi C đợi xe buýt nhận ma tuý mang về sử dụng hết.
Lần thứ hai: tối ngày 21/8/2024, H1 tiếp tục liên lạc qua Telegram với Q đặt mua 500.000 đồng ma tuý Cần sa. Q đồng ý và gửi mã QR tài khoản Ngân hàng do ứng dụng G cung cấp (không nhớ thông tin tài khoản) để H1 chuyển khoản. Do không có tiền trong tài khoản nên H1 ra cổng bến xe Bãi Cháy nhờ một người bán hàng không quen biết chuyển khoản hộ. Sau khi nhận được tiền, Q lấy 01 túi ma tuý Cần sa cho vào hộp màu đen, dán kín bên ngoài rồi mang ra khu vực cổng chào T gửi xe khách Hoàng H2 tuyến Thái Bình - Quảng Ninh (không nhớ biển số xe) đến bến xe Bãi Cháy cho H1. Sau đó, H1 mang hộp ma tuý Cần sa về sử dụng hết.
Lần thứ ba: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, H1 liên lạc qua Telegram của Q đặt mua 1.000.000 đồng ma túy Cần sa. Q đồng ý và gửi mã QR tài khoản Ngân hàng Q1 (M) số 6527103929527 mang tên PHAM THANH TRUNG do ứng dụng G cung cấp để H1 chuyển tiền. Do không có tiền trong tài khoản nên H1 nhờ chị Trần Thị Đ chuyển khoản 1.000.000 đồng từ tài khoản V2 số [...] của chị Đ đến tài khoản do Q cung cấp. Sau khi chuyển khoản thành công, H1 trả cho chị Đ tiền mặt đồng thời chụp ảnh màn hình điện thoại của chị Đ gửi cho Q thông báo đã chuyển tiền thành công. Sau khi nhận được tiền, Q lấy 01 túi ma tuý Cần sa mang đến khu vực bãi đất trống ở đối diện Nhà hàng Hồ N, phường H, thành phố H giấu trong vỏ cây thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi chụp ảnh gửi cho H1 và chỉ dẫn H1 đến lấy ma tuý. Số ma tuý Cần sa mua được, H1 đã sử dụng hết.
Lần thứ tư: khoảng 11 giờ ngày 05/9/2024, D liên lạc với Q đặt mua 300.000 đồng ma tuý Cần sa và hẹn Q mang ma tuý đến khu vực cầu K, phường H, thành phố H cho D. Q đồng ý rồi lấy 01 túi ma tuý Cần sa đi xe ôm đến điểm hẹn bán cho D. D chưa trả tiền mua ma tuý cho Q.
Đến khoảng 11 giờ ngày 06/9/2024, Q mang toàn bộ số ma tuý Cần sa còn lại cất giấu trong túi xách, đi đến đoạn đường đối diện cổng chào T thuộc tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H mục đích để bán thì bị Công an tỉnh Q phối hợp với Đội kiểm soát Hải Quan số B, Cục Hải Quan tỉnh Q và Công an phường H, thành phố H phát hiện bắt quả tang. T trong túi xách màu xanh Q đang xách ở tay phải 01 hộp bìa màu vàng bên trong có 01 đôi giày vải, trong lòng chiếc giày phải có 01 túi nilon chứa các thực vật khô (kí hiệu M1), trong lòng chiếc giày trái có 04 túi nilon chứa các thực vật khô (kí hiệu từ M2 đến M5); 01 cân điện tử màu đen, 01 cối kim loại màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, gắn sim số 0762.428.002 và 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc Q.
Tại Kết luận giám định số 1450/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M5 gửi giám định là ma túy; loại: Cần sa, tổng khối lượng là 25,387 gam.
Ngày 11/9/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Q tại phòng ngủ của nhân viên bếp trên tàu Bhaya QN6258, thu giữ trong ngăn tủ đựng đồ của Q 02 lọ thủy tinh hình trụ có nắp gỗ và 01 vỏ túi nilon.
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Quốc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã nêu trên. Ngoài ra còn khai: Q sử dụng ma tuý Cần sa từ đầu năm 2024, qua mạng xã hội Telegram, Q biết nhóm T2 có nhiều người đăng bán ma tuý Cần sa và đã nhiều lần mua ma tuý của các tài khoản trong nhóm này về sử dụng. Từ tháng 8/2024 đến ngày 04/9/2024, Q đã nhiều lần mua ma túy Cần sa của nhiều tài khoản Telegram khác nhau thông qua dịch vụ giao hàng và chuyển khoản tiền, rồi dùng cân điện tử chia nhỏ ra bán kiếm lời, với giá từ 300.000 đồng đến 1.100.000 đồng/túi. Sau mỗi lần giao dịch, các tài khoản này đều xoá hết nội dung tin nhắn, huỷ kết bạn và chặn liên lạc. Q đã bán cho nhiều người, nhưng chỉ nhớ bán cho H1, D các lần nêu trên. Q và H1 chưa gặp mặt nhau bao giờ mà chỉ liên hệ qua mạng xã hội Telegram.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Anh Hoàng Văn H1, anh Vũ Đình D có lời khai về việc mua ma túy của bị cáo Q như trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Trần Thị Đ có lời khai về việc H1 nhờ chị chuyển tiền cho Q.
Người chứng kiến - anh Lưu Văn T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: khu D, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có lời khai: khoảng 11 giờ ngày 06/9/2024, các anh chứng kiến lực lượng Công an bắt quả tang bị cáo Q tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán.
Tại Cáo trạng số: 1207/CT-VKSHL ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Trần Quốc Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc Q từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 24,74 gam Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1450/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 sim điện thoại; 01 túi xách màu xanh; 01 hộp bìa các tông màu vàng; 01 đôi giày vải; 01 cân điện tử mini, màu đen; 01 cối xay kim loại hình trụ, màu xám; 02 lọ thủy tinh hình trụ có nắp đậy bằng gỗ; 01 vỏ túi nilon, màu bạc.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen của Trần Quốc Q.
Trả lại Trần Quốc Q 01 căn cước công dân số [...].
Truy thu của bị cáo Trần Quốc Q số tiền 2.000.000 đồng.
Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Lời nói sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Hoàng Văn H1, Vũ Đình D là người đã mua ma túy của bị cáo Q; phù hợp với lời khai của người chứng kiến - anh Lưu Văn T1, anh Nguyễn Hoàng N là người chứng kiến Công an bắt quả tang Trần Quốc Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 06/9/2024 đối với Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán; phù hợp với biên bản khám xét, kết luận giám định, sao kê tài khoản ngân hàng, ảnh chụp tài khoản mạng xã hội Telegram cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: từ ngày 06/8/2024 đến ngày 05/9/2024, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Quốc Q đã ba lần bán trái phép ma tuý cho Hoàng Văn H1 với tổng số tiền là 2.000.000 đồng và một lần bán trái phép ma tuý cho Vũ Đình D.
Hồi 11 giờ ngày 06/9/2024, tại khu vực đối diện cổng chào T thuộc tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Quốc Q có hành vi tàng trữ trái phép 25,387 gam (hai lăm phẩy ba tám bẩy gam) ma túy Cần sa, mục đích để bán thì bị Công an tỉnh Q phối hợp cùng Đội kiểm soát Hải Quan số 2, Cục Hải Quan tỉnh Q và Công an phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quốc Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: đến nay bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, nên khi quyết định hình phạt có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng dù có xét thế nào chăng nữa thì cũng nhất thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[8] Về vật chứng vụ án: đối với 24,74 gam Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1450/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen thu của Trần Quốc Q. Quá trình điều tra xác định được bị cáo sử dụng để liên lạc mua, bán ma túy với Hoàng Văn H1, Vũ Đình D nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim điện thoại thu của Q không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 túi xách màu xanh; 01 hộp bìa các tông màu vàng; 01 đôi giày vải; 01 cân điện tử mini, màu đen; 01 cối xay kim loại hình trụ, màu xám; 02 lọ thủy tinh hình trụ có nắp đậy bằng gỗ; 01 vỏ túi nilon, màu bạc, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Quốc Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về số tiền do phạm tội mà có: Trần Quốc Q bán ma túy cho Hoàng Văn H1 tổng số tiền 2.000.000 đồng. Đây là tiền do phạm tội mà có do đó cần buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung ngân sách Nhà nước.
[10] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, hướng xử lý vật chứng là có căn cứ.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[13] Đối với các tài khoản trên mạng xã hội T3 đã bán ma tuý cho Q, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với tài khoản Ngân hàng M1 số 6527103929527 mang tên P nhận tiền H1 chuyển khoản mua ma túy cho Q, quá trình điều tra không xác định được ai là người sử dụng tài khoản nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Thị Đ là người Hồng nhờ chuyển khoản tiền mua ma tuý, chị Đ không biết và không liên quan đến việc mua bán ma túy giữa H1 và Q nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Hoàng Văn H1 và Vũ Đình D là người đã mua ma tuý của Trần Quốc Q về sử dụng hết. Thời điểm Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của H1, D kết quả âm tính nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Quốc Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/9/2024.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 24,74 gam Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1450/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 sim điện thoại; 01 túi xách màu xanh; 01 hộp bìa các tông màu vàng; 01 đôi giày vải; 01 cân điện tử mini, màu đen; 01 cối xay kim loại hình trụ, màu xám; 02 lọ thủy tinh hình trụ có nắp đậy bằng gỗ; 01 vỏ túi nilon, màu bạc.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen của Trần Quốc Q.
Trả lại Trần Quốc Q 01 căn cước công dân số [...].
(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 107/BB-THA ngày 23/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: bị cáo Trần Quốc Q có nghĩa vụ nộp số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Quốc Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Hoàng Văn H1, anh Vũ Đình D, chị Trần Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Cúc |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Q - Mua bán trái phép chất ma túy
