Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUÂN K,

THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày: 26/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc B

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị D
  2. Bà Hồ Thị Kim L

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An T - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2025/HSST ngày 05 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Công T, sinh năm: 1990, tại An Giang;

Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;

Chỗ ở hiện nay: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: Thợ Bạc;

Trình độ học vấn: 09/12;

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Cao Đài;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O;

Bị cáo có một người em.

Vợ Văng Thị M

Bị cáo có 02 con sinh năm 2014, 2016

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N từ ngày 11/09/2024

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trương Thanh B, sinh năm: 1975

Địa chỉ: F Tổ I, khu V, phường H, quận C, thành phố C (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thái T2, sinh năm: 1992
  2. Địa chỉ: A U, phường C, quận N, thành phố C (vắng mặt).

  3. Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm: 1970 (có mặt).
  4. Địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh A.

  5. Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1951 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: A Hồ T, phường C, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 02/12/2023, Nguyễn Công T làm thử việc thợ bạc tại Công ty TNHH MTV V địa chỉ số A U, P. C, Q. N, TP .. Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 20/12/2023 có xe chở hàng đến công ty nên ông Trương Thanh B - tổ trưởng tổ gia công nhờ khoảng 05 - 06 thợ ra phụ mang hàng vào kho, còn lại Nguyễn Công T và 02 người thợ khác đang gia công nữ trang để trả cho khách gấp nên ở lại làm cho xong. Khi ông B với một số người thợ đi ra ngoài, trong lúc đang làm việc Ty nhìn qua bàn của ông B kế bên vị trí bàn của T thì T phát hiện ngăn kéo bàn của ông B không đóng kín, bên trong ngăn bàn có 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có nhiều trang sức bằng vàng, T quan sát thấy 02 người thợ còn lại đi ra ngoài, chỉ còn một mình T trong phòng nên T nảy sinh ý định lấy trộm vàng trong ngăn kéo củaông B, T dùng tay phải lấy 02 chiếc vòng tay kiểu ốc vít bằng vàng 18K cất vào trong túi quần bên phải và tiếp tục làm việc. Đến khoảng 11 giờ 30 phút Ty cùng ăn cơm, nghỉ trưa cùng phòng với anh em thợ trong công ty. T lên phòng nằm nghỉ khoảng 10 phút thì T đi bộ đến tiệm V1, địa chỉ số A Hồ T, phường C, quận N, thành phố C để bán 01 chiếc vòng vừa lấy trộm với giá 37.000.000 đồng rồi trở lại Công ty TNHH MTV V tiếp tục làm việc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày T xin nghỉ để về nhà ở An Giang và tiếp tục đến tiệm V1 bán chiếc vòng đã lấy trộm còn lại với giá 32.000.000 đồng và đón xe khách trở về nhà ở tỉnh An Giang.

Đến chiều cùng ngày sau khi hết giờ làm việc thì ông Trần Thái T2 - Phó giám đốc Công ty và ông Trương Thanh B kiểm kê lại vàng ông T2 đã giao cho ông B gia công thì phát hiện bị mất 02 chiếc vòng tay kiểu ốc vít bằng vàng 18K nên cùng mọi người đi tìm xung quanh phòng làm việc nhưng không thấy. Qua kiểm tra camera, T2 phát hiện T là người lấy trộm nên ông T2 nhắn tin hỏi thì T thừa nhận với ông T2 có lấy trộm hai chiếc vòng tay bằng vàng nói trên và hứa hẹn 10 ngày sau sẽ đến gặp ông T2 để giải quyết nhưng đến hẹn T không đến gặp ông T2, ông T2 không liên lạc được với T nên T2 đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Công T khai nhận hành vi trộm cắp 02 chiếc vòng tay kiểu ốc vít bằng vàng 18K, bán cho tiệm V1 với giá 69.000.000 đồng để chữa bệnh cho con.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 606/KL-HĐĐG ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N kết luận: Giá trị của chiếc vòng tay bằng vàng, loại ốc vít trọng lượng 27,66 gram vàng 18K (7,37 chỉ) – Kim loại vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, giá trị là 34.771.660 đồng. Giá trị của chiếc vòng tay bằng vàng, loại ốc vít trọng lượng 31,9 gram vàng 18K (8,29 chỉ) – Kim loại vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, giá trị là 39.112.220 đồng. Tổng giá trị của hai chiếc vòng là 73.883.880 đồng.

Như vậy tổng giá trị tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt của ông Trần Thái T2 là 73.883.880 đồng.

Đối với 02 chiếc vòng tay Nguyễn Công T đem bán tại tiệm V1. Phía tiệm vàng sau khi mua vàng đã đem nung chảy, chế tác lại sản phẩm mới nên không thu hồi được 02 chiếc vòng tay trên.

Về trách nhiệm dân sự: ông Trần Thái T2 yêu cầu bồi thường 80.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng. Còn lại 50.000.000 đồng ông B đã bồi thường cho ông T2, không ai yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi.

Tại bản cáo trạng số: 69/CT –VKSNK ngày 27 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận K truy tố: bị cáo Nguyễn Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Công T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Trương Thanh B trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, con bệnh không có tiền điều trị nên đã chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị hại đã giúp bị cáo bồi thường cho ông T2 số tiền 55.000.000đ, bị hại không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, con bệnh không có tiền điều trị nên đã chiếm đoạt tài sản của hại, bà O đã giúp bị cáo bồi thường cho ông T2 số tiền 30.000.000đ. Bà O không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:

  • Truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, đoạn camera ghi hình tại nơi bị cáo làm việc, kết luận định giá cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.

Bị cáo Nguyễn Công T là người đã thành niên có sức khỏe, có nhận thức pháp luật đầy đủ, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã lén lút lấy trộm 02 chiếc vòng tay kiểu ốc vít bằng vàng 18K. Theo Kết luận định giá tài sản số: 606/KL-HĐĐG ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N: Giá trị của chiếc vòng tay bằng vàng, loại ốc vít trọng lượng 27,66 gram vàng 18K (7,37 chỉ) – Kim loại vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, giá trị là 34.771.660 đồng. Giá trị của chiếc vòng tay bằng vàng, loại ốc vít trọng lượng 31,9 gram vàng 18K (8,29 chỉ) – Kim loại vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, giá trị là 39.112.220 đồng. Tổng giá trị của hai chiếc vòng là 73.883.880 (bảy mươi ba triệu, tám trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm tám mươi đồng). Hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc vòng tay bằng vàng của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời làm mất an ninh trật tự tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo và ông B đã hoàn thành việc bồi thường cho ông T2, bị cáo thực hiện hành chiếm đoạt tài sản của bị hại trong hoàn cảnh khó khăn, con bệnh cần tiền điều trị nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận K đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • Ông T2 yêu cầu bồi thường, gia đình bị cáo và ông B đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường cho ông T2, ngày 16/03/2024 ông T2 có gởi đơn đến Tòa án nhân dân quận K xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường của từ ông B và gia đình bị cáo. Việc bồi thường trách nhiệm dân sự cho ông T2 của các đương sự đã hoàn thành nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/09/2024.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc B1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger