Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP.HÀ NỘI


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Sơn.
  • 2. Ông Phí Văn Chân.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh
  • - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Ông Lê Đình Tĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25/3/2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 38/2025/HSST, ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/HSST ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị P, Sinh năm 1999. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Đội 4, Thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ : Ông Nguyễn Tất L, mẹ đẻ: Bà Đỗ Thị D. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/12/2024, tạm giữ đến ngày 30/12/2024, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: SN 1992; NoiTT: TDP V, phường M, quận B, thành phố Hà Nội
  2. Chị Trần Thị D1, sinh năm1994; HKTT: Khu 5 TT C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1994; HKTT: TDP N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội.(Vắng mặt anh T, anh Tuấn A, chị D1)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tổ công tác Công an phường X, quận B kiểm tra hành chính nhà nghỉ “Sun park”, ngõ C đường Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội phát hiện tại phòng 205 có Nguyễn Thị P và Nguyễn Đình T, tại phòng 206 có Trần Thị D1 và Phạm Tuấn A quan hệ tình dục có biểu hiện mua bán dâm. Đấu tranh khai thác tại chỗ, P khai đến nhà nghỉ bán dâm cho T và môi giới cho D1 bán dâm Tuấn A nên tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ đồ vật tài liệu và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ. (BL37)

Quá trình đều tra xác định:

Trưa ngày 19/12/2024, Phạm Tuấn A và Nguyễn Ngọc T1 ngồi uống rượu với nhau rồi nảy sinh ý định mua dâm nên Tuấn A sử dụng tài khoản Zalo "Phạm A" nhắn tin đến tài khoản Zalo "Tee" của Nguyễn Thị P đặt vấn đề mua dâm. Cả hai thỏa thuận giá bán dâm của P là 1.500.000 đồng/01 lần, Tuấn A cho riêng P 1.000.000 đồng. Tuấn A nhờ P gọi thêm 01 gái bán dâm do có T1 đi cùng thì P nhắn tin đến tài khoản Zalo “Thơ K” của Trần Thị D1 (P quen biết D1 do cùng làm gái bán dâm) rủ D1 đi bán dâm, D1 đồng ý với giá 2.500.000 đồng/ lượt (bao gồm cả tiền taxi). Sau khi thỏa thuận với D1 xong, P báo lại Tuấn A. Tuấn A và T1 đồng ý, cùng hẹn trưa ngày 20/12/2024 sẽ gặp nhau tại nhà nghỉ “Sun park", ngõ C Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội để mua bán dâm. Như đã hẹn, khoảng 12 giờ ngày 20/12/2024, Tuấn A và T1 đến nhà nghỉ “Sun park”, thuê phòng 205, 206 chờ P và D1. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P đi G một mình đến khách sạn rồi gửi vị trí cho D1 tự đến. Khi đến nơi, P vào phòng 205 gặp Tuấn A và T1. Tuấn A đưa cho P 1.000.000 đồng tiền công P gọi thêm gái bán dâm, T1 đưa cho P 1.500.000 đồng tiền bán dâm của P rồi cả hai ở lại phòng 205 để quan hệ tình dục. Khoảng 5 phút sau, D1 đến thì Tuấn A đi sang phòng 206, đưa cho D1 2.500.000 đồng là tiền bán dâm của D1 rồi cả hai quan hệ tình dục. Khi P – T, Tuấn A – D1 vừa quan hệ tình dục xong tổ công tác Công an phường X kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng như đã nêu trên. (BL37, 39-42, 43-48, 51-53, 57-66, 80-92, 94-102, 103-110, 111-118)

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị P, Trần Thị D1, Phạm Tuấn A và Nguyễn Ngọc T1 khai nhận hành vi nội dung như trên và khai đây là lần đầu tiên P môi giới cho D1 bán dâm cho Tuấn A. (BL80-92, 94-102, 103-110, 11-118)

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Nguyễn Thị P: số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động iPphone 12 promax màu xám số sim 0366417829 điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 bao cao su đã qua sử dụng. (BL39)

Thu giữ của Trần Thị D1: số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động iPhone 13 màu hồng lắp sim số 0922762886 đã qua sử dụng; 01 bao cao su đã qua sử dụng. (BL40)

Thu giữ của Phạm Tuấn A: 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng lắp sim số 0963099831 đã qua sử dụng. (BL41)

Đối với hành vi bán dâm của Trần Thị D1 cũng như hành vi mua dâm của Phạm Tuấn A và Nguyễn Ngọc T1. Ngày 06/02/2025, Công an quận B đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 400.000 đồng với D1 và 1.500.000 đồng đối với Tuấn A, T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25 của Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, đã giao Quyết định xử phạt cho D1, Tuấn A, T1 ngày 07/02/2025. (BL142-148)

Đối với nhà nghỉ “Sun park” cho Phạm Tuấn A và Nguyễn Ngọc T1 thuê phòng nghỉ không biết mục đích thuê phòng để mua bán dâm, khi cho khách thuê đã chấp hành đầy đủ các quy định quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, thực hiện đúng các quy định về đăng ký lưu trú, nhập thông tin đầy đủ về tên, địa chỉ, căn cước công dân của khách nên cơ quan Công an không xử lý. (BL119-134).

Đối với 03 điện thoại, 02 bao cao su, số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị P và những người liên quan. Quá trình điều tra, xác định là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSBTL ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân quận B truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo P. Viện kiểm sát kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố bị cáo P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 328, Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và 01 điện thoại di động iPphone 12 promax màu xám số sim 0366417829 điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động iPhone 13 màu hồng lắp sim số 0922762886 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng lắp sim số 0963099831 đã qua sử dụng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14h00' ngày 20/12/2024, Nguyễn Thị P đã môi giới cho Trần Thị D1 bán dâm cho Phạm Tuấn A và trực tiếp bán dâm cho Nguyễn Ngọc T1 tại nhà nghỉ N “Sun park", ngõ C đường Đ, phường X, quận B, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường X, quận B bắt giữ cùng vật chứng.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo P là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nào. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm rật tự công cộng, nếp sống văn minh lành mạnh và đạo đức xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo P vừa là người bán dâm và làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt Trần Thị D1 bán dâm cho Phạm Tuấn A. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích bị cáo phạm tội do vụ lợi.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội, bị cáo mang thai. Do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xư thấy Bị cáo P có nhân thân chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy cần mở lượng khoan hồng cho bị cáo cơ hội, làm lại sau lầm lỡ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành người có ích trong xã hội, giao Bị cáo về chính quyền địa phương, nơi Bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục Bị cáo, là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Miễn hình phạt bổ xung vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo uỷ nhiệm chỉ (phiếu chuyển tiền) và 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX màu xám, lắp số thuê bao 0366417829 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình bị nứt, bật không lên nguồn, 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng, lắp số thuê bao 0963099831 đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị nứt, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại di động IPHONE 13 màu hồng, nhãn hiệu APPLE, số IMEI2: 357573870644841, lắp số thuê bao 0922762886 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong do bị cáo P và người liên quan đã sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật do đó cần tịch thu xung quỹ Nhà Nước.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo P từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội “Môi giới mại dâm”. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên xử mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 328, Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Khoản 3 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo nguyễn Thị P phạm tội: “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 09(Chín) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm.

Căn cứ vào Điểm a,b,c Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (một) bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) (01 (một) giấy chuyển tiền) và 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX màu xám, lắp số thuê bao 0366417829 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình bị nứt, bật không lên nguồn, 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng, lắp số thuê bao 0963099831 đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị nứt, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại di động IPHONE 13 màu hồng, nhãn hiệu APPLE, số IMEI2: 357573870644841, lắp số thuê bao 0922762886 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Toàn bộ số vật chứng trên hiện ở Chi cục thi hành dân sự quận B, biên bản giao nhận vật chứng số 128/25 ngày 24/02/2025.

Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - TT lý lịch-Sở tư pháp Hà Nội;
  • - VKSND Q. Bắc Từ Liêm
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - TAND thành phố Hà Nội
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Lý Kế Hiền

phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Điểm a,b,c Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (một) bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) (01 (một) giấy chuyển tiền) và 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX màu xám, lắp số thuê bao 0366417829 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình bị nứt, bật không lên nguồn, 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng, lắp số thuê bao 0963099831 đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị nứt, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại di động IPHONE 13 màu hồng, nhãn hiệu APPLE, số IMEI2: 357573870644841, lắp số thuê bao 0922762886 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Toàn bộ số vật chứng trên hiện ở Chi cục thi hành dân sự quận B, biên bản giao nhận vật chứng số 128/25 ngày 24/02/2025.

Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lý Kế Hiền



TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc


BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi: 10 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2025.

Tại: Phòng nghị án, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Kế H.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu P1

Bà Vũ Thị Kim T2

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/HSST, ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị P, Sinh năm 1999. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: SN 1992; Nơi TT: TDP V, phường M, quận B, thành phố Hà Nội
  2. Chị Trần Thị D1, sinh năm1994; HKTT: Khu 5 TT C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1994; HKTT: TDP N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.


HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3;
  2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3;
  3. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ căn cứ để xác định: Hành vi của bị cáo P2 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Môi giới mại dâm” theo Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo P về tội: “Môi giới mại dâm” theo Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3;
  4. Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo
    1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 328, Điểm i, s Khoản 1,2 Điều 51, Điều 65, Khoản 3 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 09(Chín) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kết quả biểu quyết: 3/3;

  1. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3;
  2. Căn cứ vào Điểm a,b,c Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (một) bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) (01 (một) giấy chuyển tiền) và 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX màu xám, lắp số thuê bao 0366417829 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình bị nứt, bật không lên nguồn, 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu hồng, lắp số thuê bao 0963099831 đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị nứt, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại di động IPHONE 13 màu hồng, nhãn hiệu APPLE, số IMEI2: 357573870644841, lắp số thuê bao 0922762886 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Toàn bộ số vật chứng trên hiện ở Chi cục thi hành dân sự quận B, biên bản giao nhận vật chứng số 128/25 ngày 24/02/2025.

Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3;

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3;

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.


THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lý Kế H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo P phạm tội môi giới mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger