Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày: 24/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng và ông Trần Minh Đức

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Hẻm A Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến N và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Đinh Thị N2 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo ra đầu thú và tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến ngày 21/02/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Võ Thành Đ1, sinh năm 1996; địa chỉ: 7 T, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Trương Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ G, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Ông Lương Văn C, sinh năm 1970; địa chỉ: 8 T, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1992; địa chỉ: 9 P, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Đặng Lương C1, sinh năm 1991; địa chỉ: 0 Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Ông Trần Văn H, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1991; địa chỉ: B Lam Sơn B, thôn A, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Trương Thị Mỹ D, sinh năm 1982; địa chỉ: Làng P, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị My N3, sinh năm 2004; địa chỉ: H N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Đinh Thị N2, sinh năm 1995; địa chỉ: Hẻm A Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Tiến Đ từ huyện Q, tỉnh Thanh Hóa chuyển đến sinh sống, kinh doanh tại thành phố P, tỉnh Gia Lai. Từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2024, Nguyễn Tiến Đ thực hiện hoạt động cho vay tiền lấy lãi suất. Đồng lập một tài khoản mang tên “Cho vay tiền góp P1- Gia Lai” trên mạng xã hội Facebook và có để lại số điện thoại 0915.545.xxx để quảng cáo cho vay tiền. Những người có nhu cầu vay tiền sẽ tự gọi điện hoặc nhắn tin qua zalo thông qua số điện thoại trên của Đ. Đồng sẽ đến trực tiếp địa chỉ của những người vay tiền để xem nhà và xác nhận có đúng địa chỉ hay không. Hai bên sẽ thỏa thuận số tiền cần vay, tiền lãi vay do Đ đặt ra. Có trường hợp Đồng yêu cầu những người vay đến nhà để giữ lại các giấy tờ cá nhân như CCCD, CMND, Giấy phép lái xe... và yêu cầu họ viết giấy vay tiền cho Đ. Có trường hợp Đồng chỉ yêu cầu chụp ảnh CCCD gửi qua Zalo cho Đ để Đồng kiểm tra thông tin rồi cho vay tiền.

Nguyễn Tiến Đ cho vay với 02 hình thức: Hình thức trả tiền lãi gốc theo ngày “vay trả góp (bát họ)”, thời hạn cho vay trong khoảng 21 đến 22 ngày người vay tiền sẽ phải trả trước 02 ngày tiền gốc và tiền lãi, số tiền này Đ sẽ trừ vào gói vay, Đ yêu cầu người vay phải trả tiền lệ phí hồ sơ với giá trị 06% /hợp đồng của từng gói vay. Hàng ngày, khách hàng vay sẽ trả tiền gốc, tiền lãi và chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số 9975404888 mang tên Nguyễn Tiến Đ, hoặc đưa bằng tiền mặt cho Đ. Đối với những người vay trả góp chưa trả đủ theo kỳ vay và có nhu cầu vay thêm thì Đ sẽ cho “đáo hạn”, tức là người vay tiền sẽ vay thêm gói vay mới, sau đó Đồng trừ tiền số ngày chưa trả nợ hết gói vay cũ và tất toán gói vay này, số tiền còn lại Đ sẽ chuyển cho người vay, gói vay mới sẽ được tính lại từ đầu.

Hình thức cho người vay tiền trả tiền lãi theo tháng (T1 đứng), tức là người vay sẽ phải trả tiền lãi theo ngày mà không cần trả tiền gốc, khách hàng vay sẽ đóng tiền lãi cho Đ, hợp đồng vay của hai bên sẽ chấm dứt khi khoản vay được trả tiền gốc. Cả 02 hình thức vay Đồng thu tiền lãi suất từ 445,71%/năm đến 6.256,1%/năm. Quá trình cho vay, Đ theo dõi sổ sách, căn cứ vào các lần trả góp qua chuyển khoản ngân hàng và ghi chú trong sổ cá nhân.

Từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2024, Nguyễn Tiến Đ đã cho 09 người vay với số tiền gốc là 1.528.200.000đ, Đ đã thu tiền lãi, tiền phí là 562.960.000đ. Trong đó số tiền thu lợi bất chính (vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 2015) là 541.477.566đ, cụ thể như sau:

  1. Từ ngày 15/3/2024 đến ngày 06/11/2024, anh Võ Thành Đ1 (trú tại: 7 T, tổ A, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đã vay của Đồng 02 hình thức:
    • + Vay trả lãi theo tháng với các gói vay 15.000.000₫ và 14.000.000đ, lãi suất từ 892,22%/năm đến 6257,14%/năm. Anh Đ1 đã trả tiền gốc, tiền lãi 53.900.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 9.744.384₫.
    • + Vay trả góp theo ngày 01 lần vay 5.000.000đ, 02 lần gói vay 10.000.000₫, 02 lần gói vay 15.000.000₫, 06 lần gói vay 20.000.000₫, 06 lần gói vay 30.000.000đ; lãi suất 445,71%/năm. Anh Đ1 đã trả tiền gốc, tiền lãi 439.800.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 100.891.667₫.

    Tổng số tiền thu lợi bất chính của Đ đối với 02 hình thức vay của anh Đ1 là 110.636.051₫.

  2. Từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/11/2024, chị Trương Thị T (trú tại tổ G, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày 24 lần gói vay 10.000.000đ, lãi suất 523,64%/năm. Chị T đã trả tiền gốc, tiền lãi 330.600.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 87.966.667đ.
  3. Từ ngày 05/10/2023 đến ngày 22/11/2024, anh Lương Văn C (trú tại 8 T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày 02 lần gói vay 6.500.000đ, 03 lần gói vay 8.000.000đ, 17 lần gói vay 5.000.000₫ lãi suất 523,64%/năm. Anh C đã trả tiền gốc, tiền lãi, tiền phí 170.700.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 47.208.889₫.
  4. Từ ngày 01/3/2024 đến ngày 27/10/2024, anh Nguyễn Văn P (trú tại thôn B, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) đã vay của Đồng 02 hình thức:
    • + Vay trả lãi theo tháng 01 lần gói vay 8.200.000đ, 01 lần gói vay 9.000.000₫, lãi suất của các gói vay 1.928,86%/ năm đến 2.027,78%/ năm. Anh P đã trả tiền gốc, tiền lãi 19.500.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 2.276.658₫.
    • + Vay trả góp theo ngày 02 lần gói vay 10.000.000đ; lãi suất 445,71%/năm. Anh P đã trả tiền gốc, tiền lãi 26.400.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 6.166.667₫.

    Tổng số tiền thu lợi bất chính của Đ đối với 02 hình thức vay của anh P là 8.443.325₫.

  5. Từ ngày 25/11/2024 đến ngày 22/12/2024, chị Đặng Lương C1 (trú tại tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày 01 lần gói vay 10.000.000đ, 01 lần gói vay 15.000.000đ, 02 lần gói vay 20.000.000₫ lãi suất 445,71%/năm. Chị C1 đã trả tiền gốc, tiền lãi 87.000.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 21.241.667₫.
  6. Từ ngày 16/9/2023 đến ngày 08/12/2024, anh Trần Văn H (trú tại tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đã vay của Đồng 02 hình thức:
    • + Vay trả lãi theo tháng 03 lần gói vay 30.000.000₫, 01 lần gói vay 70.000.000đ, lãi suất của các gói vay 328,5%/ năm đến 1.216,67%/ năm. Anh H đã trả tiền gốc, tiền lãi 284.060.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 117.950.411đ. Hiện anh H còn nợ Đ số tiền gốc là 40.000.000đ.
    • + Vay trả góp theo ngày 02 lần gói vay 5.000.000đ; 06 lần gói vay 10.000.000đ, 10 lần gói vay 15.000.000đ, 02 lần gói vay 20.000.000đ, 03 lần gói vay 25.000.000₫, 02 lần gói vay 30.000.000đ, 01 lần gói vay 45.000.000₫ lãi suất 445,71%/ năm. Anh H đã trả tiền gốc, tiền lãi 562.200.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 117.066.667.

    Tổng số tiền thu lợi bất chính của Đ đối với 02 hình thức vay của anh H là 235.017.078₫.

  7. Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 06/7/2024, chị Nguyễn Thị Hồng H1 (trú tại thôn A, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày 01 lần gói vay 10.000.000đ, 12 lần gói vay 15.000.000đ, lãi suất 523,64%/năm. Chị H1 đã trả tiền gốc, tiền lãi 96.600.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính là 25.744.444đ.
  8. Ngày 02/10/2023, chị Trương Thị Mỹ D (trú tại xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày 01 lần gói vay 10.000.000₫, lãi suất gói vay 523,64%/năm. Chị D đã trả tiền gốc, tiền lãi 13.800.000đ; số tiền Đ thu lợi bất chính 3.677.778d.
  9. Ngày 21/11/2024, chị Nguyễn Thị My N3 (trú tại H N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai) vay trả góp theo ngày vay 01 lần gói vay 5.000.00₫, lãi suất gói vay 445,71%/năm. Chị N3 đã trả tiền gốc, tiền lãi 6.600.000đ, trong đó số tiền Đ thu lợi bất chính là 1.541.667₫.

Tổng cộng Nguyễn Tiến Đ đã cho 09 cá nhân vay với số tiền là 1.528.200.000đ, Đ đã thu tiền lãi là 562.960.000đ, trong đó thu lợi bất chính là 541.477.566đ. Trong số 09 cá nhân vay tiền trên thì còn 01 cá nhân chưa trả tiền gốc cho Đ với số tiền là 40.000.000₫.

Qua điều tra, Đ khai đã dùng khoảng 50.000.000đ tiền gốc ban đầu của cá nhân để cho vay. Sau khi thu được tiền lãi thì Đ sử dụng tiền lãi và gốc thu được tiếp tục xoay vòng cho người khác vay. Tổng số tiền thu lợi bất chính 541.477.566đ, Đ đã sử dụng một phần cho người khác vay lại, số còn lại Đ dùng để tiêu xài cá nhân.

Về dân sự: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, Lương Văn C, Đặng Lương C1 và Nguyễn Thị My N3 yêu cầu bị cáo phải trả lại cho họ khoản tiền lãi thu lợi bất chính.

* Về vật chứng tài liệu liên quan vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G đã thu giữ của Nguyễn Tiến Đ 01 điện thoại hiệu Iphone 12 và 01 hộp mực dấu Đ khai sử dụng trong việc cho vay thu tiền gốc, lãi. Ngoài ra, cơ quan CSĐT Công an tỉnh G còn thu giữ nhiều các tài liệu giấy tờ của cá nhân những người vay mượn tiền của Đ và giao cho Đồng giữ như: Căn cước công dân, Giấy đăng ký mô tô, xe máy, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh... Quá trình điều tra đã xác định được chủ của các giấy phép lái xe, căn cước công dân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trả lại cho đương sự. Một số tài liệu thu giữ chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G tiếp tục tạm giữ để xác minh rõ chủ sở hữu để có cơ sở xử lý.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKS-P1 ngày 14/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

2. Diễn biến phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời trình bày phù hợp với nội dung có liên quan đến vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về tội danh và hình phạt:
    • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đồng phạm T2 “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
    • + Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ mức án từ 300.000.000₫ đồng đến 350.000.000 đồng.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
  • * Biện pháp tư pháp:
    • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền sung ngân sách Nhà nước gồm:
      • + 50.000.000₫ bị cáo làm công cụ phạm tội;
      • + 21.482.434 đồng tiền lãi thu lợi của những người liên quan
    • - Buộc bị cáo phải trả số tiền thu lãi vượt quá quy định pháp luật và tiền phí trả góp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
      • + Trả cho anh Võ Thành Đ1 110.636.051₫;
      • + Trả cho chị Trương Thị T 87.966.667₫;
      • + Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 25.744.444đ;
      • + Trả cho anh Nguyễn Văn P 8.443.325đ;
      • + Trả cho chị Trương Thị Mỹ D 3.677.778₫;
      • + Trả cho chị Nguyễn Thị M Ny 1.541.667₫.
    • Đối với ông Trần Văn H, chị Đặng Lương C1, ông Lương Văn C đã nhận xong tiền bồi thường không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • * Về vật chứng:
    • + Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen của bị cáo làm công cụ phạm tội.
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 hộp mực dấu hình chữ nhật màu trắng xám là phương tiện phạm tội.
    • + Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.500.000 đồng thu giữ của bị cáo để thi hành án cấn trừ vào số tiền bị cáo phải trả cho người có quyền lợi liên quan theo tỷ lệ nợ.
  • * Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • * Bị cáo có ý kiến tranh luận: Bị cáo thấy hối hận về hành vi phạm tội; đã bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt, hiện nuôi 3 con nhỏ, vợ mới sinh con nhỏ ngày 12/5/2025, là lao động chính. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Với mục đích để có tiền tiêu xài cá nhân, từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2024, Nguyễn Tiến Đ đã thực hiện hoạt động cho vay tiền lấy lãi suất trên địa bàn thành phố P. Quá trình hoạt động, Đ đã sử dụng số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc cho các cá nhân vay xoay vòng theo 02 hình thức (trả tiền lãi gốc theo ngày và tiền trả tiền lãi theo tháng) với mức lãi suất từ 445,71%/năm đến 6.256,1%/năm, vượt gấp từ 22,3 lần đến 312,8 lần mức lãi suất quy định của pháp luật. Qua đó bị cáo đã thu lợi bất chính tiền lãi và tiền phí của các cá nhân gồm: Anh Võ Thành Đ1, chị Trương Thị T, ông Lương Văn C, anh Nguyễn Văn P, anh Đặng Lương C1, ông Trần Văn H, chị Nguyễn Thị Hồng H1, chị Trương Thị Mỹ D và chị Nguyễn Thị My N3 với tổng số tiền 541.477.566 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hành của bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai đã truy tố.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là cho nhiều người vay tiền với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật từ 22,3 lần đến 312,8 lần để thu lợi bất chính, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng : Bị cáo nhiều lần cho vay lãi nặng thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

- Về tình tiết giảm nhẹ : Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho người có quyền lợi liên quan và nộp tiền để khắc phục hậu quả; được người có quyền lợi liên quan xin giảm nhẹ hình phạt; có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bố là Cựu chiến binh Việt Nam được tặng Kỷ niệm chương. Do đó, áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt.

- Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, động cơ mục đích phạm tội bị cáo là cho vay lãi nặng để thu lợi bất chính, hiện nuôi 3 con nhỏ (vợ mới sinh con tháng 5/2025). Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo để giáo dục cải tạo, mà áp dụng cho bị cáo là hình phạt tiền đủ để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về biện pháp tư pháp:

  • * Buộc bị cáo nộp lại số tiền sung ngân sách Nhà nước gồm:
    • - 50.000.000₫ bị cáo làm công cụ phạm tội;
    • - 21.482.434đ tiền lãi thu lợi của những người liên quan
  • * Buộc bị cáo phải trả số tiền thu lãi vượt quá quy định pháp luật và tiền phí trả góp cho người có quyền lợi liên quan gồm:
    • - Trả cho anh Võ Thành Đ1 110.636.051₫;
    • - Trả cho chị Trương Thị T 87.966.667₫;
    • - Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 25.744.444đ;
    • - Trả cho anh Nguyễn Văn P 8.443.325đ;
    • - Trả cho chị Trương Thị Mỹ D 3.677.778đ;
    • - Trả cho chị Nguyễn Thị M Ny 1.541.667₫.
  • Bị cáo đã nộp một phần các khoản tiền để khắc phục tại các biên lai số 000207 ngày 15/5/2025, số 000216 ngày 26/5/2025, số 000243 ngày 20/6/2025 số 000245 ngày 23/6/2025, số 000246 ngày 24/6/2025, số 000247 ngày 24/6/2025, số 000248 ngày 24/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia lai.
  • Đối với ông Trần Văn H, chị Đặng Lương C1, ông Lương Văn C đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[6] Về vật chứng: + Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen có số Imeil: 351109226587834, số I: 351109226533226 có lắp sim 0915545644 bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, đã thu giữ trong quá trình điều tra.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 hộp mực dấu hình chữ nhật màu trắng xám là phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.500.000 đồng thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra để thi hành án.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đồng phạm T2 “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).

  4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự.
    • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền 71.482.434₫ (Bảy mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm ba mươi bốn đồng) đê sung ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền như sau:
      • + Trả cho anh Võ Thành Đ1 số tiền 110.636.051đ (Một trăm mười triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn không trăm năm mươi mốt đồng);
      • + Trả lại cho anh Nguyễn Văn P số tiền 8.443.325đ (Tám triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng);
      • + Trả cho chị Trương Thị T số tiền 87.966.667₫ (Tám mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng);
      • + Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 số tiền 25.744.444đ (Hai mươi lăm triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng);
      • + Trả cho chị Trương Thị Mỹ D số tiền 3.677.778đ (Ba triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng);
      • + Trả cho chị Nguyễn Thị M Ny số tiền 1.541.667đ (Một triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
    • (Đã nộp một phần theo các biên lai số các biên lai số 000207 ngày 15/5/2025, số 000216 ngày 26/5/2025, số 000243 ngày 20/6/2025 số 000245 ngày 23/6/2025, số 000246 ngày 24/6/2025, số 000247 ngày 24/6/2025, số 000248 ngày 24/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia lai.)
  5. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen có số Imeil: 351109226587834, số I: 351109226533226 có lắp sim 0915545644;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) hộp mực dấu hình chữ nhật màu trắng xám;
    • - Tiếp tục tạm giữ 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) thu của bị cáo để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.
    • (Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 74/2025 lập ngày 19/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
  7. Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo qui định .
  9. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND cấp cao;
  • - TAND cấp cao;
  • - Viện KSND tỉnh Gia lai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Tòa HS, VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đồng phạm T2 “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger