Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày: 19/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Anh

2. Ông Dương Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19/8/2025 tại Trụ sở tòa án nhân dân Khu vực 4 Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 37/2025/HSST, ngày 29 tháng 7 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXX-HS ngày 04 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức A1, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 2000. Thẻ CCCD: [...]. Nơi thường trú: Số B ngõ D đường Á, phường T, TP B, tỉnh Bắc Giang. Nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở hiện nay: số A đường H, phường H, TP B, Bắc Giang. Nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ông Nguyễn Khắc T, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị H. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Chị Nguyễn Hoàng Ngọc A. Con: có 01 con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Anh Phạm Quang N, SN: 2002. Trú tại: Xã T, thị xã T, Bắc Ninh. Nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh. Thẻ CCCD: [...] cấp ngày 05/7/2021. (Có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Đức A1 và Phạm Quang N có quan hệ xã hội quen biết và cùng thuê phòng trọ ở cùng nhau tại số B ngách B đường X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. Nay là phường X, thành phố Hà Nội.

Khoảng 05 giờ ngày 07/03/2025, lợi dụng lúc Phạm Quang N ngủ say, Nguyễn Đức A1 đã mở túi xách của N để ở phòng trọ rồi lấy trộm 01 đăng ký xe máy số 99008106, biển kiểm soát: 99B1-518.60 và chìa khóa xe trong túi áo khoác của N. Sau đó, Nguyễn Đức A1 xuống sân của khu nhà trọ dùng chìa khóa mở khóa điện chiếc xe máy hiệu Honda Wave màu trắng biển kiểm soát: 99B1-518.60 của N và điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ Ngân An của anh Nguyễn Quốc H1 tại địa chỉ D đường Đ, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nay là phường Ô, thành phố Hà Nội để cầm cố. Nguyễn Đức A1 đưa đăng ký xe cho anh H1 và nói “xe mua lại của người nhà, nếu cần thì sẽ mang giấy tờ liên quan lên sau”. Anh H1 tin lời Đức A1 nói là thật nên đã nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Wave Biển kiểm soát: 99B1-518.60 với giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Số tiền cầm cố xe, Nguyễn Đức A1 đã mang đi chi tiêu cá nhân hết. Ngày 07/3/2025, anh Phạm Quang N đến Công an phường X trình báo sự việc như đã nêu ở trên. (BL17-20, BL25-53, BL59-77, BL79-93)

Sau khi nhận được đơn trình báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định đối tượng trộm cắp xe máy của anh Phạm Quang Nghĩa là Nguyễn Đức A1 nên ngày 14/5/2025 cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Đức A1 để tiến hành điều tra làm rõ. (BL1, BL6, BL11, BL25, BL27)

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức A1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Đức A1 khai do không có tiền tiêu sài cá nhân nên đã trộm cắp xe máy để cầm cố lấy tiền tiêu xài. (BL79-93)

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của anh Nguyễn Quốc H1: (BL40) 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 99B1-518.60. 01 đăng ký xe máy số 99008106, biển kiểm soát: 99B1 - 518.60, tên chủ xe Phạm Quang N;

Kết luận định giá tài sản số 116 ngày 28/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 99B1 - 518.60 đã qua sử dụng, đăng ký tháng 5/2022, thu giữ được tài sản trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). (BL31)

Đối với anh Nguyễn Quốc H1, khi cầm cố tài sản là chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 99B1 - 518.60 của Nguyễn Đức A1, anh H1 không

2

biết tài sản đó do Đức A1 trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh Nguyễn Quốc H1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên, anh H1 cầm cố chiếc xe máy trên của Đức A1 không chính chủ, không có giấy ủy quyền của chủ sở hữu xe máy nên hành vi trên đã vi phạm hành chính theo điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ: “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”. Do đó, ngày 10/7/2025 cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã có Công văn số 3350 đề nghị Công an phường Ô, thành phố Hà Nội tiếp nhận hồ sơ liên quan đến việc vi phạm hành chính của anh Nguyễn Quốc H1 để xem xét xử lý theo quy định pháp luật. (BL65-73, BL94)

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 99B1 - 518.60, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe máy trên là của anh Phạm Quang N nên ngày 30/6/2025 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe máy trên cùng giấy tờ xe trên cho anh N. (BL56-57)

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Quang N đã nhận lại được tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường.

Nguyễn Đức A1 đã trả lại 7.000.000 đồng cho anh Nguyễn Quốc H1 nên anh H1 không yêu cầu bồi thường. (BL61, BL69)

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức A1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSKV4 ngày 23/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 truy tố bị cáo Nguyễn Đức A1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức A1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, gia đình bị cáo Nguyễn Đức A1 đã bồi thường toàn bộ số tiền yêu cầu của anh N, bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo được ở ngoài xã hội lao động chăm sóc vợ con.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

3

Xử phạt: Nguyễn Đức A1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. Giao bị cáo Đức A1 về nơi cư trú giám sát giáo dục.

Hình phạt bổ sung: Không.

Xử lý vật chứng: Không.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 05 giờ ngày 07/3/2025, Nguyễn Đức A1 có hành vi trộm cắp 01 xe máy BKS: 99B1-518.60 trị giá xe máy 10.000.000 đồng của anh Phạm Quang N tại số B ngách B đường X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. Nay là phường X, thành phố Hà Nội.

Bị cáo Nguyễn Đức A1 đã bồi thường xong cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về dân sự.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo Đức A1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo ăn lăn hối cải, bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là

4

10.000.000 đồng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi của mình là sai nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội bột phát do đó cần mở lượng khoan hồng cho bị cáo cơ hội làm lại sau lầm lỡ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự giáo dục cải tạo hoàn lương, bị cáo được cải tạo ngoài xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ích trong xã hội. Giao bị cáo cho UBND phường B, tỉnh Bắc Ninh giáo dục trong thời gian thử thách.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Không.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với nhận định của HĐXX. Do đó cần xử mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức A1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức A1 09(Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

5

Giao bị cáo Đức A1 cho UBND phường B, tỉnh Bắc Ninh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - TT lý lịch-Sở tư pháp tp Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 4
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - TAND thành phố Hà Nội
  • - Công an thành phố Hà Nội.
  • - Phòng THADS Khu vực 4;
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Kế Hiền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger