|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày: 18 – 6 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long
Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Nho
Ông Trịnh Ngọc Bằng
Bà Đặng Thị Xuân Lệnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Bà Ung Thị Thanh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Q, sinh ngày 10/4/1976, tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Số B H, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên bán xăng dầu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Việt P (đã chết) và bà Ngô Thị N (sinh năm 1957); có vợ là Nguyễn Thị Ngọc D (sinh năm 1996) và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/12/2001, bị Toà án nhân dân thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố T) xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã xoá án tích.
- Ngày 06/3/2020, bị Công an phường A xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/01/2025, chuyển tạm giam ngày 04/02/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q (theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng): Luật sư Ngô Thị Đ – Văn phòng Luật sư Vũ Minh T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Số A T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1989; trú tại: Số I T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D1:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962 (là cha ruột của ông D1). Vắng mặt.
- Bà Trương Thị L, sinh năm 1963 (là mẹ ruột của ông D1). Có mặt. Cùng trú tại: Số I T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1993 (là vợ của ông D1). Có mặt. Trú tại: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1983; trú tại: Số B H, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Cháu Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 21/11/2019 (là con ruột của ông D1). Vắng mặt
- Cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/4/2021 (là con ruột của ông D1). Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Văn Tuấn A và Nguyễn Thị Ngọc Á: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1993 (là mẹ ruột của cháu A và cháu Á). Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Huỳnh Phát Cổ M1, sinh năm 1989; trú tại: Lô A L, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Ông Đào Văn T2, sinh năm 1989; trú tại: Hẻm F H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962; trú tại: Số I T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Ông Trương T3, sinh năm 1973; trú tại: Số H T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1996; trú tại: Số I T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Ngọc D kết hôn vào năm 2016 và sống chung với nhau tại nhà của Q ở số B H, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 2017, sau khi chị D sinh con thì chị D cùng con là cháu Trần Minh T4 chuyển về sống tại nhà ba mẹ ruột của chị D là ông Nguyễn Văn S và bà Trương Thị Lê T5 số 90 T, thành phố T. Hằng ngày, Q đi làm tại Cửa hàng xăng dầu, tối thì Q đến ở cùng với mẹ con chị D. Đến khoảng tháng 10/2024, vợ chồng Q mua 01 xe ô tô biển kiểm soát 92A-412.45, do chị D đứng tên chủ sở hữu. Trong quá trình chung sống, giữa Q và bà Trương Thị Lê X ra mâu thuẫn với nhau nên từ ngày 25/11/2024, Q không đến sống chung tại nhà Số I T, thành phố T. Riêng xe ô tô thì chị D đưa về đậu tại bãi đất trống trước nhà số I T và dùng lưới B40 để rào lại và có dùng ổ khoá để khoá lại.
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 29/01/2025 (tức Mùng 1 Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025), sau khi đã uống bia, Trần Văn Q điều khiển xe máy biển kiểm soát 43K-112 (xe này Quốc mượn của bạn) đi đến nhà ông Nguyễn Văn S, Q gặp và yêu cầu chị D đưa chìa khoá xe ô tô biển kiểm soát 92A-412.45 cho Q để Q lấy xe đi nhưng nhưng chị D nhận thấy Q đã uống rượu, bia nên không đồng ý giao xe cho Q. Sau đó, khi Q đi từ trong nhà ra thì con chó (của ông Nguyễn Văn S) sủa nên Q dùng tay đánh con chó; thấy vậy ông Nguyễn Văn S có nói “mắc chi mi đánh con chó?” nên giữa Q và ông S xảy ra cãi vã với nhau. Nghe tiếng cãi nhau, ông Nguyễn Văn D1 (là con ruột của ông S, anh ruột chị D, sống cách nhà ông S khoảng 20m) đi từ trong nhà anh D1 qua nhà ông S và khuyên bảo Q thì Q điều khiển xe máy đi về.
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến nhà, Q lấy 01 (một) con dao, loại dao bầu, dài 35cm, cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn, dài 21cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,8cm và 01 (một) thanh gỗ dài 67cm, dạng hình hộp chữ nhật có kích thước (3,1x5,1)cm, rồi quay lại nhà ông S. Khi đến nơi, Q vừa la hét vừa dùng thanh gỗ đập phá cửa lưới B40 để vào lấy xe ô tô. Chị D từ trong nhà đi ra, đứng bên trong cổng nói vọng ra với nội dung không cho Q đập phá nên giữa Q và chị D tiếp tục xảy ra cãi vã. Lúc này, Q nói với chị D: “mi không đưa xe thì tau đốt xe” rồi Q vứt đoạn cây gỗ và đi đến vị trí dựng xe máy, lấy con dao bầu cầm trên tay. Nghe tiếng cãi nhau, ông D1 đi từ trong nhà anh D1 ra và có nói “Mùng 1 mà sao mi tới quậy miết rứa, về đi”. Nghe vậy, Q nói với ông D1 “Ông đứng im đó, ông đi tới là tôi đâm ông đó”; Q thấy ông D1 vẫn đi về phía Q nên Q cầm dao xông về phía ông D1, Quốc đứng đối diện với ông D1 (khu vực đường bê tông trước nhà số I T, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), Q dùng con dao bầu đâm 01 nhát vào vùng bụng bên trái của ông D1 (khi Q đâm thì lưỡi dao trúng vào tay trái của ông D1 rồi đâm thẳng vào phần bụng của ông D1); Q rút dao ra thì ông D1 ngã xuống đường, còn Q cầm dao quay lại đứng bên cạnh chiếc xe máy. Lúc này, ông Trương T3 đến lấy con dao trên tay Q, Quốc bỏ đi.
Về phần ông Nguyễn Văn D1, sau khi bị Q đâm thì được bạn là anh Huỳnh Phát Cổ M1 và anh Đào Văn T2 dùng xe mô tô chở đến Bệnh viện Đ1 để cấp cứu nhưng ông D1 đã chết trên đường đi cấp cứu.
Lúc 14 giờ 30 phút ngày 29/01/2025, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh Q đã phối hợp với Viện KSND tỉnh Q, Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q, Công an thành phố T tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn D1.
Đối với con dao, sau khi ông Trương T3 lấy con dao từ tay Q thì đưa lại con dao cho ông Nguyễn Văn S, ông S đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q.
Lúc 19 giờ 15 phút ngày 29/01/2025, Trần Văn Q đến Phòng K Công an tỉnh Q đầu thú và khai nhận hành vi dùng dao đâm chết ông Nguyễn Văn D1 như nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 115/KLGĐTT-KTHS(PY) ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
1. Các kết quả chính:
- - Da toàn thân trắng bệch nhợt nhạt; hoen tử thi ít, nhợt nhạt; kết mạc mi mắt hai bên nhợt nhạt; niêm mạc môi nhợt nhạt;
- - Ổ bụng tụ nhiều máu loãng và máu đông (ước lượng khoảng 3,5lit);
- - Vết thương thấu vùng ¼ bụng dưới bên trái (Vết 01) gây thủng cơ bụng, đứt gần hoàn toàn 01 quai ruột non, thủng mạc treo ruột già và rách động mạch mạc treo tràng trên;
- - Vết rách da vùng cẳng tay bên trái (Vết 02) gây đứt cơ vùng cẳng tay bên trái, khứa vào xương quay bên trái.
2. Kết luận:
- - Nguyên nhân chết: sốc mất máu tối cấp do vết thương thấu bụng gây rách động mạch mạc treo tràng trên.
- - Cơ chết hình thành vết thương:
- + Vết 01: vật sắc nhọn tác động rất mạnh vào vùng ¼ bụng dưới bên trái theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải và từ dưới lên trên;
- + Vết 02: vật sắc nhọn tác động rất mạnh vào vùng mặt sau trong đoạn 1/3 giữa cẳng tay bên trái theo hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới.
Tại Bản kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 19/02/2025 của Phân Viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên con dao (con dao dài 35cm, cán bằng gỗ, màu nâu, dài 14cm, rộng 03cm; lưỡi bằng kim loại, màu trắng–nâu, dài 21cm, phần rộng nhất 5,8cm) có máu của ông Nguyễn Văn D1.
* Đồ vật, tài liệu thu giữ:
- - 01 (một) con dao, dài 35cm, cán bằng gỗ, màu nâu, dài 14cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn, dài 21cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,8cm.
- - 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật dài 67cm, kích thước (3,1x5,1)cm; 01 (một) quần vải kaki; 01 (một) đôi dép màu nâu; 01 (một) áo khoác dài tay; 01 (một) quần lót vải màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh đã qua sử dụng, trên mũ có dòng chữ pvoilube, phía sau bị bể không rõ hình dạng; 01 (một) mẫu chất màu nâu đỏ.
- - 01 (một) đĩa DVD, lưu trữ 02 đoạn video trích xuất từ camera của nhà bà Phùng Thị Thanh T6 (sinh năm 1971, trú tại Số I T, phường A, thành phố T) ghi lại hình ảnh Trần Văn Q có hành vi dùng dao đâm ông Nguyễn Văn D1.
- - 01 (một) USB hiệu Kingston 8GB, chứa đoạn video trích xuất từ camera đặt tại khu vực đậu xe của quán B do ông Hoàng Ngọc H (sinh năm 1984, trú tại Số G T, phường A, thành phố T) làm chủ; ghi lại ghi lại hình ảnh Trần Văn Q có hành vi dùng dao đâm ông Nguyễn Văn D1.
- - Số tiền 20.000.000 đồng do ông Trần Quốc T1 (là em ruột bị cáo Trần Văn Q) tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả, hiện đang tạm gửi trong tài khoản của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q tại Kho bạc Nhà nước Khu vực X1.
- - 01 đĩa ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung bị cáo ngày 27/3/2025.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc M (là vợ ông Nguyễn Văn D1) yêu cầu bị cáo Trần Văn Q có trách nhiệm bồi thường các khoản sau:
- + Bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ và con của anh D1 gồm: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, cháu Nguyễn Văn Tuấn A, Nguyễn Thị Ngọc Á số tiền 140.000.000 đồng;
- + Cấp dưỡng cho 02 con của anh Nguyễn Văn D1, mỗi tháng mỗi cháu 2.500.000 đồng kể từ khi anh D1 mất cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.
- - Bà Trương Thị L và ông Nguyễn Văn S (là cha mẹ anh D1) không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Bị cáo đã tác động gia đình giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả do bị cáo gây ra.
Quá trình điều tra, Trần Văn Q đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKSQN-P2 ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Giết người”.
- - Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn Q Tù chung thân.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Trần Văn Q có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Ngọc M (vợ của ông D1) tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi 02 con của ông D1 theo nội dung mà bị cáo Q và chị M đã tự nguyện thoả thuận tại phiên toà.
- - Về xử lý vật chứng và các nội dung liên quan khác: Đề nghị giải quyết theo đề cập tại bản cáo trạng.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt áp dụng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo nhận tội, thật sự ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn D1 số tiền 20.000.000 đồng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do khi gặp lại bị hại thì bị cáo nhớ lại chuyện mâu thuẩn cũ, bị hại có lời nói thách đố nên bị cáo đã tức giận, không kiềm chế được hành vi. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.
Bị cáo Trần Văn Q đồng ý với nội dung bào chữa của Luật sư bào chữa, không bào chữa, tranh luận bổ sung và xin giảm nhẹ hình phạt.
Các đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y về nguyên nhân chết người, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2025, Trần Văn Q đem theo 01 con dao, dài 35cm, cán bằng gỗ màu nâu, dài 14cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn, dài 21cm, và 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật dài 67cm, kích thước (3,1x5,1)cm đến nhà ba mẹ vợ của Q là ông Nguyễn Văn S và bà Trương Thị L (tại số I T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) tìm gặp vợ của Q là chị Nguyễn Thị Ngọc D để yêu cầu chị D đưa chìa khoá xe ô tô cho quốc đi. Do chị D thấy Q đã dùng rượu bia nên không giao choà khoá xe cho Q, giữa Q và chị D xảy ra cãi vã với nhau; lúc này ông Nguyễn Văn D1 (là anh ruột chị D) nghe tiếng cãi nhau thì đi từ trong nhà ông D1 ra đường T với mục đích để khuyên ngăn Trần Văn Q. Khi ông D1 đi đến đoạn đường bê tông trước nhà số I T, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam thì Trần Văn Q xông đến, dùng con dao bầu (có đặc điểm nêu trên) đâm 01 nhát vào vùng bụng bên trái của anh D1, hậu quả làm anh Nguyễn Văn D1 chết trên đường đi cấp cứu.
Hành vi của bị cáo Trần Văn Q vô cớ sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, hậu quả làm cho bị hại tử vong trên đường cấp cứu, đã cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Tính mạng, sức khoẻ con người được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe người khác đều bị pháp luật trừng trị và bị dư luận xã hội lên án. Từ một nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại, bất chấp hậu quả, thể hiện tính côn đồ, hung hãn và ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã tướt đoạt tính mạng của ông D1, gây bất bình và hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thì thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Văn Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình nộp khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Ngọc M (là vợ của ông Nguyễn Văn D1) và bị cáo Trần Văn Q tự nguyện thoả thuận nội dung bồi thường dân sự, cụ thể như sau: Bị cáo Trần Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc M các khoản sau:
- - Bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị Ngọc M và 02 con của ông Nguyễn Văn D1 là cháu Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 21/11/2019 và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/4/2021, tổng cộng số tiền: 140.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Q đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường trước, số tiền còn lại bị cáo Q phải bồi thường là 120.000.000 đồng.
- - Cấp dưỡng nuôi 02 con của ông Nguyễn Văn D1 là cháu Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 21/11/2019 và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/4/2021, mỗi cháu 2.500.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ khi ông D1 chết (tháng 2/2025) cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.
Xét thấy, nội dung thoả thuận mà bị cáo Q và người đại diện hợp pháp của bị hại là có căn cứ, tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên công nhận sự thoả thuận này.
Đối với ông Nguyễn Văn S và bà Trương Thị L (là cha mẹ ruột của bị hại Nguyễn Văn D1) không yêu cầu bị cáo Q bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) con dao, dài 35cm, cán bằng gỗ, màu nâu, dài 14cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn, dài 21cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,8cm. Đây là hung khí mà bị cáo Trần Văn Q dùng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật dài 67cm, kích thước (3,1x5,1)cm; 01 (một) quần lót vải màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh đã qua sử dụng, trên mũ có dòng chữ pvoilube; 01 (một) mẫu chất màu nâu đỏ, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) quần vải kaki; 01 (một) đôi dép màu nâu; 01 (một) áo khoác dài tay, là những đồ vật, tài sản của anh Nguyễn Văn D1, theo yêu cầu của chị M đề nghị xin trả lại nên trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc M.
- - Đối với 01 (một) đĩa DVD; 01 (một) USB hiệu Kingston 8GB và 01 đĩa ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung bị cáo ngày 27/3/2025. Đây là vật chứng chứng minh lời khai, hình ảnh về hành vi phạm tội nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với tiền sử bệnh tật của bị cáo Trần Văn Q: Quá trình điều tra, xác định từ ngày 26/11/1995 đến ngày 04/12/1995, bị cáo điều trị nội trú tại Trung tâm sức khỏe tâm thần thành phố H với chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Tuy nhiên, tại Bản án số 05/HSST ngày 05/12/2001, Tòa án nhân dân thị xã Tam Kỳ xét xử đối với bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, Bản án không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh về quá trình sinh sống, hoạt động, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bị cáo trong thời gian từ năm 2013 đến ngày 29/01/2025, xác định bị cáo Trần Văn Q sinh sống, hoạt động bình thường, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi bình thường, không có dấu hiệu gì về mắc bệnh thần kinh, tâm thần.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Quốc T7 chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 29/01/2025).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- + Buộc bị cáo Trần Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D1 (đã chết) là bà Nguyễn Thị Ngọc M (là vợ của ông Nguyễn Văn D1) các khoản cụ thể như sau:
- + Bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị Ngọc M và 02 con của ông Nguyễn Văn D1 là cháu Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 21/11/2019 và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/4/2021, tổng cộng số tiền: 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng. Gia đình bị cáo Q đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường trước, số tiền còn lại bị cáo Trần Văn Q phải bồi thường là 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng.
- + Cấp dưỡng nuôi 02 con của ông Nguyễn Văn D1 là cháu Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 21/11/2019 và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/4/2021, mỗi cháu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 2/2025 cho đến khi 02 cháu Nguyễn Văn Tuấn A và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á đủ 18 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Ngọc M được nhận toàn bộ số tiền này.
(Số tiền 20.000.000 đồng mà gia đình bị cáo Q đã nộp hiện đang tạm gửi trong tài khoản của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q tại Kho bạc Nhà nước Khu vực XII theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 31/3/2025).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Trần Văn Q không thi hành số tiền nêu trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (một) con dao, dài 35cm, cán bằng gỗ, màu nâu, dài 14cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn, dài 21cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,8cm.
- + 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật dài 67cm, kích thước (3,1x5,1)cm.
- + 01 (một) quần lót vải màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh đã qua sử dụng, trên mũ có dòng chữ pvoilube; 01 (một) mẫu chất màu nâu đỏ.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc M: 01 (một) quần vải kaki; 01 (một) đôi dép màu nâu; 01 (một) áo khoác dài tay (tài sản của ông Nguyễn Văn D1)
(Các vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/4/2025).
Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD; 01 (một) USB hiệu Kingston 8GB và 01 đĩa ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung bị cáo ngày 27/3/2025.
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, 6.000.000 (sáu triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng.
5. Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xin xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2025). Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Long |
9
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "giết người"
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Giết người"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội và xử phạt bị cáo
