|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HS-ST
Ngày 17 -11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mạnh Hùng và bà Nguyễn Thị Thụy.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 -Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 02 trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2025 thoe Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 03/11/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức H, tên gọi khác: không, sinh ngày 06/11/1981; tại tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng); nơi ĐKHKTT: P1308 - OCT2 - DN2, phường Đ, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: phòng 5.9B khu quản lý vận hành Nhà máy N, tổ G, khu H, phường M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: quản đốc phân xưởng nhiên liệu Công ty N1; trình độ văn hoá: lớp 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1953 và bà Trần Thị V, sinh năm 1958; có vợ là Bùi Thị L, sinh năm 1981; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt.
Người làm chứng: chị Bùi Thị L, sinh năm 1981, địa chỉ nơi thường trú: P1308 - OCT2 - DN2, phường Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức H là Quản đốc phân xưởng nhiên liệu - Công ty N1, hiện đang sinh sống một mình tại phòng tập thể 5.9 thuộc tòa B khu Quản lý vận hành Nhà máy N, tổ G, khu H, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Do có sở thích nghiên cứu và sưu tầm vũ khí là súng nên khoảng thời gian từ tháng 11/2024 đến tháng 12/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, H có tìm hiểu một số hội/nhóm có thông tin trao đổi mua bán vũ khí. H sử dụng tài khoản facebook tên là “Hòa Nguyễn Đ” để chủ động liên hệ và thỏa thuận với một tài khoản facebook (không biết nhân thân, lai lịch của chủ tài khoản), đặt mua 01 (một) khẩu súng trường dài, loại súng hơi bắn đạn bi sắt với giá 12.000.000 đồng; 01 (một) khẩu súng lục, loại bơm ga bắn đạn bi sắt với giá 5.000.000 đông; 01 (một) khẩu súng bắn nỏ với giá 400.000 đồng, thanh toán tiền mặt khi nhận được súng. Sau đi đặt mua khoảng 3 ngày, có 01 người đàn ông gọi điện thoại để báo cho H nhận hàng, tại khu vực bãi đất trống cạnh Công ty thuộc tổ G, khu H, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Những khẩu súng được đặt trong 03 hộp giấy bạc. H đã thanh toán tiền mặt cho người này. Quá trình nhận hàng, do người này đeo khẩu trang nên H không nhìn thấy mặt. Đây là lần đầu tiên H mua súng của người này. H tàng trữ số vũ khí trên nhằm mục đích sưu tầm, chưa sử dụng, không có ai biết về việc H mua và để số vũ khí trên tại phòng. Sau đó đến ngày 01/7/2025 đã bị kiểm tra hành chính như đã nêu trên.
Vật chứng và đồ vật tạm giữ gồm:
- - 01 khẩu súng dài 104cm, báng súng bằng nhựa màu đen, thân súng có dòng chữ “Fxairguns”, bên trên lắp 01 ống ngắm và 01 ống giảm thanh, có 02 đồng hồ đo áp và 01 bình khí nén, là vũ khí quân dụng, Cơ quan an nình điều tra chuyển cho Quân khu C – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản, cất giữ. 01 khẩu súng dài 22cm, đường kính nòng 6mm, thân súng có dòng chữ “Colt's PT.F.A.MFG.CO.HARFORD.CT.USA”, hộp tiếp đạn bằng kim loại, bên trong gắn 01 bình kim loại hình trụ sáng màu, 02 bình kim loại hình trụ sáng màu, 01 túi nilon, chứa 260 viên bi kim loại, đường kính 6mm và 01 vật dạng cây nỏ, màu đen, dài 81cm, phía cuối đoạn tay cầm có gắn bộ phận cò, không phải vũ khí quân dụng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng kèm 01 sim điện thoại.
Người làm chứng chị Bùi Thị L khai chị L là vợ của bị cáo H, hai vợ chồng ở hai nơi khác nhau. Chị L cùng các con sống tại Hà Nội, còn bị cáo H sống và làm việc tại Công ty N1. Từ khi bị cáo H được công ty G quản lý, sử dụng căn hộ 5.9 toà B khu quản lý vận hành Nhà máy N, chị L chưa đến thăm bị cáo H. Chỉ khi được cơ quan chức năng thông báo, và sau khi nghe bị cáo H kể lại, thì chị L mới biết bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSQN-P1, ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo H phạm tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Công ty N1, UBND phường M, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; thông tư số 75/2024/TT-BCA hướng dẫn Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; xử lý vật chứng là:
- - 01 khẩu súng dài 104cm, báng súng bằng nhựa màu đen, thân súng có dòng chữ “Fxairguns”, bên trên lắp 01 ống ngắm và 01 ống giảm thanh, có 02 đồng hồ đo áp và 01 bình khí nén, là vũ khí quân dụng, Cơ quan an ninh điều tra chuyển cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản, cất giữ. Vì vậy, đề nghị giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản, cất giữ theo quy định.
- - 01 khẩu súng dài 22cm, đường kính lòng khoảng 6mm, trên thân súng có dòng chữ “COLT’S PT.F.A.MFG.GO.HARTFORD.CT.U.S.A”, hộp tiếp đạn bằng kim loại bên trong có gắn 01 bình kim loại hình trụ sáng màu; 01 túi nilon; 02 bình kim loại hình trụ sáng màu; 260 viên bi kim loại, đường kính 6mm; 01 vật dạng cây nỏ, màu đen, dài 81cm, phía cuối đoạn tay cầm gắn bộ phận cò; theo kết luận giám định không phải là vũ khí quân dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 sim thu giữ của bị cáo, kết quả kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội, vì vậy đề nghị trả lại cho bị cáo H.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, và không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận do có sở thích nghiên cứu và sưu tầm vũ khí là súng, nên khoảng thời gian từ tháng 11/2024 đến tháng 12/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo sử dụng tài khoản facebook tên là “Hòa Nguyễn Đ” để chủ động liên hệ và thỏa thuận với một tài khoản facebook (không biết nhân thân, lai lịch của chủ tài khoản), đặt mua 01 (một) khẩu súng trường dài, loại súng hơi bắn đạn bi sắt với giá 12.000.000 đồng; 01 (một) khẩu súng lục, loại bơm ga bắn đạn bi sắt với giá 5.000.000 đồng; 01 (một) khẩu súng bắn nỏ với giá 400.000 đồng. Bị cáo tàng trữ số vũ khí trên nhằm mục đích sưu tầm, chưa sử dụng, không có ai biết về việc bị cáo mua và để số vũ khí trên tại phòng của mình. Sau đó đến ngày 01/7/2025 đã bị kiểm tra hành chính như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp Biên bản kiểm tra hành chính của tổ công tác phòng C1 Công an tỉnh Q lập hồi 18 giờ 30 phút ngày 01/7/2025; phù hợp kết luận giám định số: 862/KL-KTHS ngày 03/7/2025 của Phòng C1 Công an tỉnh Q, kết luận giám định số: 5676/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của V1 Bộ C2; phù hợp sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 304 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo:
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Vũ khí quân dụng là đối tượng được Nhà nước quản lý chặt chẽ để bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ vũ khí quân dụng mà không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về sản xuất, quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu và gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng chống tội phạm trong xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình công tác tại nhà máy N bị cáo có nhiều thanh tích xuất sắc trong sản xuất, năm 2010 bị cáo đạt chiến sỹ thi đua cơ sở và chiến sỹ thi đua cấp Tập đoàn Đ1; năm 2024 bị cáo đạt chiến sỹ thi đua cơ sở; các năm 2018, 2019, 2022, 2023 bị cáo được Tổng công ty P tặng Giấy khen; các năm 2015, 2020 bị cáo được Công ty N1 tặng Giấy khen; bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Văn T là liệt sĩ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vì vậy xét cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ theo Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy, không cần phải bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
[5]. Về hình phạt bổ sung: xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Những vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng: quá trình điều tra không xác định được đối tượng bán trái phép vũ khí quân dụng cho bị cáo. Tài liệu chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc bị cáo mua bán trái phép vũ khí quân dụng; vì vậy không có cơ sở xử lý bị cáo về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- 01 khẩu súng dài 104cm, báng súng bằng nhựa màu đen, thân súng có dòng chữ “Fxairguns”, bên trên lắp 01 ống ngắm và 01 ống giảm thanh, có 02 đồng hồ đo áp và 01 bình khí nén, là vũ khí quân dụng, Cơ quan an ninh điều tra chuyển cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản, cất giữ. Vì vậy giao cho Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh Q bảo quản, cất giữ theo quy định.
- 01 khẩu súng dài 22cm, đường kính lòng khoảng 6mm, trên thân súng có dòng chữ “COLT'S PT.F.A.MFG.GO.HARTFORD.CT.U.S.A”, hộp tiếp đạn bằng kim loại bên trong có gắn 01 bình kim loại hình trụ sáng màu; 01 túi nilon; 02 bình kim loại hình trụ sáng màu; 260 viên bi kim loại, đường kính 6mm; 01 vật dạng cây nỏ, màu đen, dài 81cm, phía cuối đoạn tay cầm gắn bộ phận cò; theo kết luận giám định không phải là vũ khí quân dụng, không có giá trị sử dụng, vì vậy tịch thu tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 sim thu giữ của bị cáo; kết quả kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy trả lại cho bị cáo.
[8]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phíđiểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Đức H có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 304; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho UBND phường M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Công ty N1, UBND phường M, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 24/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Giao 01 khẩu súng dài 104cm, báng súng bằng nhựa màu đen, thân súng có dòng chữ “Fxairguns”, bên trên lắp 01 ống ngắm và 01 ống giảm thanh, có 02 đồng hồ đo áp và 01 bình khí nén, là vũ khí quân dụng, cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản, cất giữ theo quy định của pháp luật. Theo Biên bản bàn giao súng pháo, khí tài lập ngày 07/10/2025 của Đại đội kho, phòng hậu cần – kỹ thuật, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh.
Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng dài 22cm, đường kính lòng khoảng 6mm, trên thân súng có dòng chữ "COLT'S PT.F.A.MFG.GO.HARTFORD.CT.U.S.A”, hộp tiếp đạn bằng kim loại bên trong có gắn 01 bình kim loại hình trụ sáng màu; 01 túi nilon; 02 bình kim loại hình trụ sáng màu; 260 viên bi kim loại, đường kính 6mm; 01 vật dạng cây nỏ, màu đen, dài 81cm, phía cuối đoạn tay cầm gắn bộ phận cò.
Trả lại bị cáo Nguyễn Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại.
Tình trạng vật chứng, tài sản như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 19/BB-THA.KV3 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự khu vực 3 - Quảng Ninh.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Nguyễn Đức H. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TOẠ Nguyễn Hồng Ánh |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Hòa phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"
