Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày: 17-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thanh Thảo
  2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Bách – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Quốc N, sinh năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 78/9 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 7/5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Hùng C và bà Trần Thị H; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 – Có mặt

- Bị hại: Bà Trần Thị Phương H, sinh năm 1969 – Vắng mặt

Địa chỉ: A đường C, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Thành N1, sinh năm 1997 – Vắng mặt
  2. Địa chỉ: D Quốc lộ A cũ, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Lê Hùng C, sinh năm 1971 – vắng mặt
  4. Địa chỉ: 7 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để trả nợ nên khoảng 12 giờ 35 phút ngày 02/12/2024, Lê Quốc N điều khiển xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, biển số 55 Y9 – 0121 đến tiệm C1 địa chỉ số A CN1, phường S, quận T để cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 với giá 2.500.000 đồng cho bà Trần Thị Phương H. Bà H có làm hợp đồng vay với N, do N từng cầm đồ với bà H nhiều lần nên N để lại giấy cầm đồ tại cửa hàng rồi nhờ bà H chuyển khoản 2.400.000 đồng thông qua mã QR Code cho anh T (không rõ lai lịch) để trả nợ còn 100.000 đồng thì bà H đưa tiền mặt cho N rồi N điều khiển xe gắn máy bỏ đi. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, N quay lại tiệm cầm đồ trên gặp bà H để mượn điện thoại di động trên lấy thông tin để nạp thẻ trò chơi. Tại đây, N cầm điện thoại di động lấy thông tin rồi đưa bà H 300.000 đồng và nhờ bà H nạp thẻ trò chơi dùm N. Sau khi nạp thẻ xong, N thấy khách đông, bà H không để ý đến Nam nên N nảy sinh ý định lấy điện thoại di động trên. Lúc này, N lợi dụng khách đang đứng che khuất Nam và bà H đang tiếp khách nên Nam lén lút cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 đi ra khỏi cửa hàng rồi điều khiển xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, biển số 55 Y9 – 0121 đến tiệm C2 địa chỉ 77/6 N, xã T, huyện H để cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 mà N trộm cắp với giá 2.600.000 đồng cho anh Cao Thành N1 (chủ cửa hàng), N đã tiêu xài hết số tiền trên.

Đến ngày 16/12/2024, N bị Công an phường S bắt giữ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Lê Quốc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản số 3139/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận T kết luận (tại thời điểm ngày 02/12/2024): 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 13 dung lượng 128GB, màu hồng đã qua sử dụng trị giá 9.900.000 đồng (Bút lục: 33).

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 dung lượng 128GB, màu hồng. Đây là điện thoại di động mà Lê Quốc N lấy trộm.
  • 01 đôi dép cao su, màu cam đã qua sử dụng.
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 55Y9-0121. Do ông Lê Hùng C đứng tên chủ sở hữu (bút lục: 106). Ông C trình bày: vào ngày 02/12/2024 ông C có để xe gắn máy ở nhà số G ấp T, xã B, huyện H thì Lê Quốc N lấy xe gắn máy trên để đi làm. Khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T mời làm việc thì ông C mới biết N lấy xe đi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” (Bút lục 111). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho ông C

Các vật chứng còn lại đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 35/PNK ngày 03/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Về phần dân sự:

Bà Trần Thị H (mẹ ruột của Lê Quốc N) bồi thường cho bà Trần Thị Phương H số tiền 2.500.000 đồng. Bà Phương H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Anh Cao Thành N1 không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại Bản cáo trạng số: 66/CT-VKSQTP ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Quốc N tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quốc N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Ngày 02/12/2024, tại tiệm C1 địa chỉ số A C, phường S, quận T, Lê Quốc N lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 trị giá 9.900.000 đồng của bà Trần Thị Phương H thì bị bắt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Quốc N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Đối với anh Cao Thành N1 khi nhận cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 thì anh N1 không biết tài sản do N trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý anh N1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị cáo đã vận động gia đình bị cáo bồi thường cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì khác do đó Hội đồng xét xử không xét.

Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Thành N1 không có yêu cầu bồi thường gì do đó Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 dung lượng 128GB, màu hồng. Đây là điện thoại di động mà Lê Quốc N lấy trộm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản bị cáo cầm cho người bị hại bà Trần Thị Phương H, mẹ bị cáo đã bồi thường cho người bị hại. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo.
  • 01 đôi dép cao su, màu cam đã qua sử dụng. Bị cáo N mang khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 55Y9-0121. Do ông Lê Hùng C đứng tên chủ sở hữu (bút lục: 106). Ông C trình bày: vào ngày 02/12/2024 ông C có để xe gắn máy ở nhà số G ấp T, xã B, huyện H thì Lê Quốc N lấy xe gắn máy trên để đi làm. Khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T mời làm việc thì ông C mới biết N lấy xe đi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho ông C. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Lê Quốc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: L (chín) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép cao su, màu cam đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo N: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 dung lượng 128GB, màu hồng.

    (Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 35/PNK ngày 03/01/2025 của Cơ quan cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp công an quận T)

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  6. Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh(1);
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân
  • Trại khu vực Tân Phú (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - NCQLNVLQ (1)
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger