Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thuận, ông Hồ Văn Ức

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh,Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Trí D (Nguyễn Chí D1), sinh năm 1979; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D, khóm M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, chỗ ở hiện nay: ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Minh T(chết) và bà Lê Thị Mỹ D2 ( chết); vợ Trương Thị D3( đã ly hôn); con có 03 người: lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2019; Anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là người thứ hai.

Nhân thân:

Tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/01/2025 cho đến nay (có mặt)

Bị hại: Ông Trương Quốc K, sinh ngày 19/01/2002; nơi cư trú: tổ A, ấp E, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Trương Thị D3, sinh ngày 29/12/1988; nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);

- Ông Nguyễn Trương Quốc B, sinh ngày 13/02/2007; nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang(vắng mặt);

Người làm chứng: Ông Huỳnh Văn T1, ông Trần Văn Đ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2006 – 2022, Nguyễn Trí D, Trương Thị D3 là vợ - chồng, đã ly hôn, tiếp tục chung sống như vợ chồng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không sống chung nữa. Diễm thấy D đăng trạng thái cá nhân trên mạng xã hội FACEBOOK, nghĩ rằng D nói D3 lấy chồng khác mang nợ nần nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, D3 cùng Nguyễn Trương Quốc B (sinh năm 2007, con chung với D), Trương Quốc K (em ruột D3) tìm D nói chuyện. Khi đến cửa hàng X (ấp E, xã V, thị xã T), D3 thấy D đang uống rượu cùng với Trần Văn H, Huỳnh Văn T1 (bạn của D), D3 đến gặp, hỏi D, phát sinh cự cãi, đánh nhau. D3 cầm dép đang mang đánh vào vùng mặt nhưng D tránh được, D định đánh lại D3 thì bị B can ngăn ôm D lại; K xông vào dùng tay đánh, dùng chân đạp vào người làm D té ngã ra sau. Tức giận, D nhặt cây kéo kim loại (dùng cắt thịt đang để trên bàn) tiếp tục đánh nhau với K, B. Khi này, D bị K dùng tay đánh trúng vùng đầu, lưng; D khom người, tay trái ôm K, tay phải cầm kéo đâm nhiều nhát, gây thương tích cho K ở vùng hông trái, mông trái, đùi trái; B dùng chân đá thì bị D cầm kéo quơ trúng đùi phải, gây thương tích. Được mọi người can ngăn, đưa K đến Bệnh viện Đ1 điều trị thương tích đến ngày 11/10/2024 xuất viện, K có đơn yêu cầu xử lý; do thương tích nhẹ, B không yêu cầu xử lý. Mời làm việc, D thừa nhận hành vi, từ chối giám định thương tích.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T khởi tố, tạm giam Nguyễn Trí D để điều tra, xử lý.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 cây kéo bằng kim loại dài 21 cm, cán kéo bằng kim loại sơn màu vàng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 10 cm, đầu mũi kéo nhọn, đã bàn giao Cơ quan Thi hành án Dân sự .

Căn cứ các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 775, 819/24/KLTTCT-TTPY ngày 29/11/2024, 17/12/2024 của Trung tâm P, Sở y tế tỉnh A, ghi nhận:

Họ và tên: Trương Quốc K, sinh năm 2002; ngụ ấp E, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

Các kết quả chính: Sẹo ngực trái đường nách sau, nằm xiên (1.6 × 0.2) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 01%; gây thấu ngực tràn khí màng phổi trái, điều trị nội khoa, tỷ lệ 08%. Tỷ lệ là 09%. Sẹo nếp lần mông trái, đứng dọc (1.3 × 0.5) cm, sẹo phẳng, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 01%. Sẹo mặt sau ½ giữa đùi trái, đứng dọc (1.5 × 0.3) cm, sẹo phẳng, sậm màu, bờ sắc, tỷ lệ 01%. Sẹo mặt sau ½ dưới đùi trái, nằm xiên (1.5 × 0.3) cm, sẹo phẳng, sậm màu, bờ sắc, tỷ lệ 01%. Sẹo mặt ngoài ½ dưới đùi trái, đứng dọc (2.5 × 0.5) cm, sẹo lồi, sậm màu, bờ sắc, tỷ lệ 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 13%, do vật sắc nhọn gây nên.

Họ và tên: Nguyễn Trương Quốc B, sinh năm 2007, ngụ ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

Các kết quả chính: Vết thương hở vùng đùi phải, kích thước (0.7 × 0.5) cm, tỷ lệ 01%, do vật nhọn gây nên.

Cáo trạng số 22/CT-VKSTC ngày 23 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trí D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Trí D còn có hành vi dùng kéo kim loại đâm, gây thương tích cho Nguyễn Trương Quốc B (tỷ lệ 01%), nhưng B không yêu cầu xử lý; Trương Quốc K, Nguyễn Trương Quốc B cùng có hành vi dùng tay, chân đánh D nhưng D từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trí D khai nhận có gây thương tích cho Trương Quốc K, Nguyễn Trương Quốc B như nội dung cáo trạng truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt và vắng mặt đều khai phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trương Quốc K đã được bị cáo D bồi thường chi phí điều trị thương tích 7.400.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết truy tố như cáo trạng, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trí D mức án từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu)tháng tù;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng gồm: 01 cây kéo bằng kim loại dài 21 cm, cán kéo bằng kim loại sơn màu vàng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 10 cm, đầu mũi kéo nhọn, đã qua sử dụng

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/4/2025)

Về trách nhiệm dân sự : bị hại Trương Quốc K đã được bị cáo D bồi thường chi phí điều trị thương tích 7.400.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Trí D còn có hành vi dùng kéo kim loại đâm, gây thương tích cho Nguyễn Trương Quốc B (tỷ lệ 01%), nhưng B không yêu cầu xử lý; Trương Quốc K, Nguyễn Trương Quốc B cùng có hành vi dùng tay, chân đánh D nhưng D từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, tại phiên tòa: Hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai cần thiết cho việc giải quyết xét xử nên căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Trí D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ;

Từ năm 2006 – 2022, Nguyễn Trí D, Trương Thị D3 là vợ - chồng, đã ly hôn, tiếp tục chung sống như vợ chồng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không sống chung nữa. Diễm thấy D đăng trạng thái cá nhân trên mạng xã hội FACEBOOK, nghĩ rằng D nói D3 lấy chồng khác mang nợ nần nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, D3 cùng Nguyễn Trương Quốc B (sinh năm 2007, con chung với D), Trương Quốc K (em ruột D3) tìm D nói chuyện. Khi đến cửa hàng X (ấp E, xã V, thị xã T), D3 thấy D đang uống rượu cùng với Trần Văn H, Huỳnh Văn T1 (bạn của D), D3 đến gặp, hỏi D, phát sinh cự cãi, đánh nhau. D3 cầm dép đang mang đánh vào vùng mặt nhưng D tránh được, D định đánh lại D3 thì bị B can ngăn ôm D lại; K xông vào dùng tay đánh, dùng chân đạp vào người làm D té ngã ra sau. Tức giận, D nhặt cây kéo kim loại (dùng cắt thịt đang để trên bàn) tiếp tục đánh nhau với K, B. Khi này, D bị K dùng tay đánh trúng vùng đầu, lưng; D khom người, tay trái ôm K, tay phải cầm kéo đâm nhiều nhát, gây thương tích cho K ở vùng hông trái, mông trái, đùi trái với tỷ tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên là 13%, hành vi của bị cáo D phạm vào tội “ Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm là tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm, phù hợp tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra, qua đó cũng nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm chung trong giai đoạn hiên nay.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để làm ăn chân chính và hướng thiện. trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là gây thương tích cho người khác và thực hiện tội phạm đến cùng chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong thiệt hại cho bị hại, bị cáo có cha là ông Nguyễn Minh T có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về cố ý gây thương tích có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lỗi của các bên khi đánh nhau, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là dùng tay đánh vào đầu và lưng của bị cáo trước, từ đó quyết định mức hình phạt tương xứng phù hợp với tính chất và mức độ hậu quả mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo đầu khung hình phạt mà điều luật Viện kiểm sát truy tố mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Đối với Nguyễn Trí D còn có hành vi dùng kéo kim loại đâm, gây thương tích cho Nguyễn Trương Quốc B (tỷ lệ 01%), nhưng B không yêu cầu xử lý; Trương Quốc K, Nguyễn Trương Quốc B cùng có hành vi dùng tay, chân đánh D nhưng D từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trương Quốc K đã được bị cáo D bồi thường chi phí điều trị thương tích 7.400.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 cây kéo bằng kim loại dài 21 cm, cán kéo bằng kim loại sơn màu vàng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 10 cm, đầu mũi kéo nhọn, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/4/2025)

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Trí D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trí D ( Nguyễn Chí D1) phạm tội "Cố ý gây thương tích";

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trí D 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/01/2025

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại dài 21 cm, cán kéo bằng kim loại sơn màu vàng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 10 cm, đầu mũi kéo nhọn, đã qua sử dụng

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/4/2025)

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trí D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • -Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • -VKSND thị xã Tân Châu;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TXTC
  • - Cơ quan THAHS - CATXTC
  • - Chi cục THADS thị xã Tân Châu;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Hòa Bình

Các thành viên HĐXX

Phạm Hồng Thuận Hồ Văn Ứ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hòa B1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 53 ngày 13/6/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger