|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày: 10/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Minh Huyền và bà Trịnh Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Thắng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huy T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 02 tháng 6 năm 1988, tại Y, Thanh Hóa; nơi cư trú: tổ D, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp: 12/12; nghề nghiệp: công nhân công ty cổ phần T3; con ông: Nguyễn Huy L; con bà: Nguyễn Thị T1; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 16/12/2024; có mặt.
Người làm chứng: anh Bùi Thanh T2, anh Chíu Sinh D, ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn V - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Huy T đã 03 lần bán ma túy cho Bùi Thanh T2 và Chíu Sinh D như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 14/12/2024, T2 gọi điện thoại cho T để mua 500.000 đồng ma túy “đá”. T đồng ý và hẹn Tuyền đến giao dịch tại khu vực gần đường T, phường C, thành phố C. Tại nơi hẹn, T2 chuyển khoản trả tiền xong thì T đưa cho T2 01 túi nilon chứa ma túy “đá” rồi rời đi. T2 cầm về nhà sử dụng hết.
Lần thứ hai: khoảng 20 giờ 40 phút ngày 14/12/2024, D gọi điện thoại cho T để mua 450.000 đồng ma túy “đá”. T đồng ý nhưng yêu cầu chuyển khoản trả tiền trước. Sau khi nhận được tiền, T hẹn D đến khu vực đầu đường T, phường C để nhận ma túy. Còn T cầm gói ma túy đến giấu sẵn ở gần đó, chụp ảnh lại. Khi D đến nơi thì T gửi ảnh qua ứng dụng Zalo để biết chỗ lấy ma túy. Dương cầm về nhà sử dụng hết.
Lần thứ ba: khoảng 18 giờ ngày 16/12/2024, T2 gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. T đồng ý và hẹn T2 nơi cũ để giao dịch. T cầm theo 01 túi nilon chứa ma túy rồi đi bộ từ nhà tới nơi hẹn thì bị Công an thành phố C phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Đồng thời khám xét khẩn cấp nơi ở của T thu giữ: 02 túi nilon kích thước (4x6) cm và (4x7) cm chứa tổng 2,498 gam ma túy loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 1996 ngày 21/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0383980955; 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng chiều dài 6,5 cm có một đầu vát nhọn; 10 vỏ túi nilon kích thước (4x6,4)cm bên trong rỗng.
Tại bản kết luận giám định số 2000 ngày 22/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q thể hiện: mẫu nước tiểu ghi thu của T, T2 và D đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại phiên toà, Nguyễn Huy T khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã nêu và khai nguồn gốc số ma tuý trên T mua của một người đàn ông tên P ở Nam Định vào cuối tháng 11/2024 với giá 4.000.000 đồng. Sau đó T mang về phòng ngủ của mình rồi chia nhỏ ra các túi để bán.
Tại bản Cáo trạng số: 1704/CT-VKSCP ngày 11/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Huy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Huy T mức án từ 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 07(bảy) năm 09 (chín) tháng tù.
Căn cứ: điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 sim điện thoại, 01 cân tiểu ly, 01 ống hút nhự màu trắng, 10 vỏ túi nilon; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Sam sung; buộc bị cáo nộp lại số tiền 950.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của anh Bùi Thanh T2, anh Chíu Sinh D, ông Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn H về thời gian, địa điểm, loại ma tuý mà bị cáo mua bán; phù hợp với biên bản khám xét; Tuyền, D nhận dạng được bị cáo qua ảnh và ngược lại bị cáo cũng nhận dạng được T2, D qua ảnh; phù hợp với các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với các biên bản làm việc xác định địa điểm giao nhận ma tuý; phù hợp với bản ảnh vật chứng; phù hợp với nhật ký cuộc gọi các cuộc gọi, đi và đến từ điện thoại của T, phù hợp với tin nhắn SMS điện thoại của T về số tiền giao dịch mua bán ma tuý của Bùi Thanh T2 và Chíu Sinh D chuyển khoản cho T vào ngày 14/12/2024.
Tại kết luận giám định số 1996/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất ma tuý thu giữ của Nguyễn Huy T là: Methamphetamine, có tổng khối lượng là 2,498 gam là hoàn toàn phù hợp với chất ma tuý mà T, T2, D đã sử dụng khi xét nghiệm nước tiểu (bản kết luận giám định số 2000 ngày 22/12/2024).
Với các chứng cứ trên cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 14 và 16/12/2024, tại phường C, thành phố C, Nguyễn Huy T đã 03 lần bán ma túy với giá từ 450.000 đồng đến 500.000 đồng/túi cho Bùi Thanh T2 và Chíu Sinh D và còn tàng trữ 2,498 gam ma túy loại Methamphetamine để bán thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây mất ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Ông Nguyễn Huy L- bố đẻ bị cáo được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng nghiện, không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng.
[6] Về vật chứng: số ma tuý Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án sau giám định hoàn lại 2,39 (hai phẩy ba mươi chín) gam là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
Thu giữ trong vụ án 01 điện thoại SAMSUNG của T kèm theo 01 sim điện thoại, 01 cân tiểu ly, 01 ống hút nhự màu trắng, 10 vỏ túi nilon; xét chiếc điện thoại trên bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 cân tiểu ly, 01 ống hút nhự màu trắng, 10 vỏ túi nilon và 01 sim điện thoại là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
Số tiền 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma tuý mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại nộp ngân sách nhà nước.
Đối với Bùi Thanh T2 và Chíu Sinh D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan Điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên P bán ma túy cho T, do không biết lai lịch địa chỉ, nên không đủ căn cứ xử lý.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Huy T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Nguyễn Huy T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/12/2024.
Về vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1996/KL-KTHS, 01 sim điện thoại của T, 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh, 01 ống hút nhựa màu trắng, 10 vỏ túi nilon;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG của Nguyễn Huy T.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 86/BB-THA ngày 20/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc Nguyễn Huy T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy T mua bán ma tuý
