Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 53/2025/HS-ST

Ngày 09 - 4 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim và bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 25/02/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 10/2025/HS-QĐ ngày 13/3/2025; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 03/2025/HS-QĐ ngày 24/3/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 07/TB-TA ngày 26/3/2025 đối với bị cáo:

  • * Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; Giới tính: Nam.
  • Tên gọi khác: không.
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
  • Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12.
  • Con ông: Nguyễn Văn H1.
  • Con bà: Nguyễn Thị D.
  • Anh, chị em: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
  • Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1996 (Đã ly hôn).
  • Con: bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020.
  • Tiền án: Tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 30/3/2022, Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2024.
  • Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

* Bị hại:

  1. Anh Vương Bá Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu đô thị Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vu liên quan:

  1. Anh Nguyễn Gia H2 sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  2. Chi Nguyễn Thi T2 sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố số A, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

- Người làm chúng:

  1. Anh Nguyễn Đúc C sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn Đ1 sinh năm 1997. (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn P sinh năm 1994. (vắng mặt)
  4. Cùng địa chỉ: Thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bác Giang
  5. Anh Nguyễn Đức H3 sinh năm 2003. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án, không có việc làm ổn định, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người. Trong ngày 19/8/2024 và ngày 26/10/2024, H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô của người khác, trong đó, 01 vụ tại xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và 01 vụ tại tổ dân phố T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Buổi tối ngày 18/8/2024, H đang ở phòng 401 nhà nghỉ “Anh Đ2” ở xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì có bạn là anh Vương Bá Đ, sinh năm 1997, trú tại thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội nhắn tin rủ đi làm thuê cùng. Lúc này, H đồng ý và bảo anh Đ đến nhà nghỉ “Anh Đ2” đón H. Khoảng 00 giờ ngày 19/8/2024, anh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SuperDream, màu nâu, biển số 99D1-147.94 (viết tắt là xe mô tô biển số 99D1-147.94), mượn của anh Nguyễn Xuân H4, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến nhà nghỉ “Anh Đ2” gặp H. Khi đến nơi, H nhìn thấy anh Đ để xe mô tô tại sảnh tầng một nhà nghỉ, nhưng không khóa cổ, khóa càng nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. H đưa anh Đ lên phòng 401 của nhà nghỉ nói chuyện. Tại đây, H hỏi anh Đ có uống nước không để xuống lễ tân lấy nước mang lên, anh Đ đồng ý; mục đích của H để đi xuống trộm cắp xe mô tô của anh Đ. Sau đó, H xuống quầy lễ tân ở tầng 1 nhà nghỉ và bảo chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1978, trú tại xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là quản lý nhà nghỉ “Anh Đ2” mở cổng cho H. Sau đó, H dùng hai tay dắt trộm xe mô tô biển số 99D1-147.94 của anh Đ ra khỏi nhà nghỉ. H dắt trộm xe mô tô của anh Đ đi cách cổng nhà nghỉ “Anh Đ2” khoảng 01km, thấy không có ai đuổi theo, H đỗ xe lại. Tiếp đó, H dùng chìa khóa xe mô tô nhặt được tại nhà nghỉ trước đó tháo ốc ở phần mặt nạ cụm đèn trước, rút dây điện nối với ổ khóa xe rồi đạp nổ máy và điều khiển xe mô tô đi. Trên đường đi, H dùng điện thoại gọi điện cho anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang hẹn đi đến khu vực Cầu H, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang gặp H để đi nhờ xe về nhà. Sau đó, anh Đ1 cùng anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô đi cùng đến điểm hẹn đón H. Tại đây, H bảo anh Đ1 và anh P đi theo xe của H điều khiển rồi đưa H về. H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 99D1-147.94 đến nhà anh Nguyễn Gia H2, sinh năm 1996, trú tại thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang để cầm đồ nhưng anh H2 không đồng ý. Lúc này H vay anh H2 5.000.000 đồng rồi để lại xe mô tô biển số 99D1-147.94 làm tin. Sau đó, H bảo anh Đ1 và anh P chở H về khu vực cây xăng N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, H xuống xe còn P và Đ1 điều khiển xe đi về nhà ngủ. Toàn bộ số tiền nêu trên, H đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 28/10/2024, anh Đ đã trình báo việc bị trộm cắp xe mô tô đến Công an xã K, huyện P. Ngày 29/10/2024, Công an xã K đã thu giữ được của anh Nguyễn Gia H2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SuperDream, biển số 99D1-147.94. Công an xã K đã chuyển vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ trộm cắp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 13/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên định giá và kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SuperDream, biển số 99D1-147.94 của anh Đ bị trộm cắp ngày 19/8/2024 có trị giá 3.380.000 đồng.

Ngày 14/11/2024, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn H thực hiện lại hành vi dùng chiếc chìa khoá kim loại vặn mở ốc đầu xe mô tô, tháo rắc cắm điện rồi đạp nổ xe mô tô trộm cắp của anh Đ. Kết quả, Nguyễn Văn H đã tự thực hiện được toàn bộ hành vi nêu trên phù hợp với lời khai của bị cáo.

Vụ thứ hai: Do quen biết từ trước, H biết anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: số B tổ G Ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, nơi ở hiện tại: khu đô thị Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang có xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 98N8-4301 (viết tắt là xe mô tô biển số 98N8-4301) nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh T1. Sáng ngày 26/11/2024, H hẹn anh T1 đến nhà nghỉ “Huy Hùng” ở tổ dân phố T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để bán cho anh T1 sim điện thoại “0366.221.xxx”, anh T1 đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 26/10/2024, anh T1 điều khiển xe mô tô biển số 98N8-4301 đến nhà nghỉ “Huy Hùng”, dựng xe mô tô ở cửa rồi đi lên phòng C nơi H thuê để gặp H. Tại đây, H hỏi anh T1 uống nước gì để H xuống lễ tân lấy, thì anh T1 bảo H lấy nước lọc mang lên phòng. Mục đích của H là xuống tầng 1 nhà nghỉ trộm cắp chiếc xe mô tô của anh T1. Khi xuống tầng 1 nhà nghỉ, H thấy xe mô tô biển số 98N8-4301 của anh T1 không khóa cổ, khóa càng nên dùng hai tay dắt trộm ra khỏi nhà nghỉ, đi về hướng cổng trường Đại học N1. Khi đi đến quán bán nước uống của chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố số A, phường B, thị xã V, đối diện cổng trường Đại học N1, thấy không có ai đuổi theo, H đỗ xe lại. Sau đó, H mượn chị T4 01 tô vít có một đầu nhọn, một đầu dẹt, cán bằng nhựa màu đen rồi tháo ốp đèn đầu xe mô tô biển số 98N8-4301 ra và rút giắc dây điện, đạp nổ máy xe. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 98N8-4301 trộm cắp của anh T1 đến quán sửa chữa khoá của anh Nguyễn Đức C1, sinh năm 1987, ở ngã tư chợ N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. H nói dối chìa khóa xe mô tô bị người khác cầm, chưa trả, bảo anh C1 đánh lại cho 01 chiếc chìa khoá xe mô tô biển số 98N8-4301. Sau khi anh C1 đánh xong chìa khoá đưa cho H, H điều khiển xe mô tô biển số 98N8-4301 đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Gia H2, sinh năm 1996, tại thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang thế chấp xe vay được số tiền 4.500.000 đồng. Số tiền thế chấp xe mô tô trộm cắp, H đã chi tiêu cá nhân hết.

Cùng ngày 26/10/2024, anh T1 không thấy H quay lại phòng nghỉ, xuống tầng 1 nhà nghỉ “Huy Hùng” kiểm tra thì phát hiện xe mô tô đã bị trộm cắp nên đến Công an phường B trình báo sự việc trên. Ngày 28/10/2024, biết hành vi phạm tội đã bị phát hiện, Nguyễn Văn H đã đến Công an phường B đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Công an phường B đã bàn giao H cùng tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra Công an thị xã V điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của H qua que test, kết quả Hải dương tính với chất ma túy MET.

Ngày 29/10/2024 và 03/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V thu giữ của: anh Nguyễn Gia H2 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển số 98N8-4301; thu của chị Nguyễn Thị T4 01 tô vít có một đầu nhọn, một đầu dẹt, cán bằng nhựa màu đen.

Lần lượt các ngày, 03/11/2024, ngày 05/11/2024 và ngày 12/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho chị Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Huy T1, anh Nguyễn Đức C1, anh Nguyễn Gia H2 nhận dạng Nguyễn Văn H, kết quả: chị T4, anh T1, anh C1, anh H2 nhận dạng được H qua ảnh.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn H nhận dạng chiếc tô vít thu giữ của chị T4 nêu trên. Kết quả, H nhận dạng chiếc tô vít nêu trên là vật H dùng tháo ốp đầu đèn xe mô tô biển số 98N8-4301.

Cơ quan điều tra thu giữ được tại Camera ở quán bán nước uống của chị Nguyễn Thị T4 và Camera an ninh tại khu vực ngã tư đường giao thông cạnh trường Đại học N1 hình ảnh vi deo ghi lại việc H dùng tô vít tháo nhựa đầu xe và điều khiển xe mô tô biển số 98N8-4301 của anh T1.

Ngày 04/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V đã định giá và kết luận 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 98N8-4301 của anh T1 bị trộm cắp ngày 26/10/2024 trị giá 10.500.000 đồng.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn H thực nghiệm lại hành vi dùng tô vit tháo ốp đầu đèn xe và rút giắc cắm điện ra để đạp nổ xe mô tô đã trộm cắp của anh T1. Kết quả, Nguyễn Văn H đã tự mô tả và thực hiện được hành vi nêu trên phù hợp với lời khai của bị cáo.

Đối với chị Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Đức C1, anh Nguyễn Gia H2, Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn Đ1, chị Nguyễn Thị T3 đều không biết xe mô tô biển số 98N8-4301 và xe mô tô biển số 99D1-147.94 là tài sản H trộm cắp của người khác nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Ngoài ra, quá trình điều tra, H khai nhận: tối ngày 27/10/2024, H một mình đến khu vực đầu cầu Đ thuộc địa phận phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mua của một người không biết họ tên, địa chỉ và không nhìn được mặt ma túy tổng để sử dụng. Số ma túy mua được H đã tự sử dụng hết ngay tại địa điểm mua ma túy. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, đề cập xử lý người bán ma túy cho H. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H đã bị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Về vật chứng: chìa khóa dùng mở khóa xe mô tô trộm cắp của anh Đ, bị cáo khai đã vứt; chìa khóa dùng vào trộm cắp xe của anh T1, anh H2 khai đã làm rơi mất sau khi nhận thế chấp xe mô tô; số tiền thế chấp xe có được bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết và điện thoại di động dùng liên lạc sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo khai rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã trả lại: xe mô tô biển số 99D1-147.94 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân H4, xe mô tô biển số 98N8-4301 cho anh Nguyễn Huy T1, chiếc tô vít cho chị Nguyễn Thị T4.

Trách nhiệm dân sự: Anh T1, anh H4 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự; anh Vương Bá Đ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí đi lại và tổn thất tinh thần là 6.000.000 đồng; anh H2 yêu cầu bị cáo trả lại tổng số tiền 9.500.000 đồng đã cho bị cáo vay như nêu trên. Hiện bị cáo chưa bồi thường khoản tiền nào cho anh Đ, anh H2.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 589 BLDS buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại cho anh Nguyễn Gia H2 số tiền 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng);

Anh Vương Bá Đ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí đi lại và tổn thất tinh thần là 6.000.000 đồng; xét thấy chi phí đi lại đến làm việc với cơ quan tố tụng của bị hại và tổn thất về tinh thần không thuộc trường hợp bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Văn H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: C2 chìa khóa dùng mở khóa xe mô tô trộm cắp của anh Đ, bị cáo khai đã vứt; chìa khóa dùng vào trộm cắp xe của anh T1, anh H2 khai đã làm rơi mất sau khi nhận thế chấp xe mô tô; số tiền thế chấp xe có được bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết và điện thoại di động dùng liên lạc sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo khai rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xử lý trong vụ án này.

Đối với: 01 xe mô tô biển số 99D1-147.94 của anh Nguyễn Xuân H4; 01 xe mô tô biển số 98N8-4301 của anh Nguyễn Huy T1, chiếc tô vít của chị Nguyễn Thị T4. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 775.000₫ (Bẩy trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
  2. [2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
  3. [3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Văn H đang có 01 tiền án, không có việc làm ổn định. Trong ngày 19/8/2024 và ngày 26/10/2024, H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô của người khác, cụ thể:
    • Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 19/8/2024, tại sảnh tầng một nhà nghỉ “Anh Đ2” ở xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SuperDream, màu nâu, biển số 99D1-147.94, trị giá 3.380.000đồng của anh Vương Bá Đ, sinh năm 1997, trú tại thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội.
    • Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 26/10/2024, tại cửa nhà nghỉ "" ở tổ dân phố T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 98N8-4301, trị giá 10.500.000 đồng của anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú số B tổ G Ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, nơi ở tại khu đô thị Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    Toàn bộ hai xe mô tô trộm cắp nêu trên, Nguyễn Văn H đã mang thế chấp cho người khác để vay tiền chi tiêu cá nhân. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp là 13.880.000đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ được các xe mô tô bị cáo trộm cắp để trả lại chủ sở hữu.

    Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Cần phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

  4. [4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các lần đều đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo đang có 01 tiền án nay lại phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. [5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  6. [6]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Văn H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  7. [7]. Về vật chứng: C2 chìa khóa dùng mở khóa xe mô tô trộm cắp của anh Đ, bị cáo khai đã vứt; chìa khóa dùng vào trộm cắp xe của anh T1, anh H2 khai đã làm rơi mất sau khi nhận thế chấp xe mô tô; số tiền thế chấp xe có được bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết và điện thoại di động dùng liên lạc sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo khai rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

    Đối với 01 xe mô tô biển số 99D1-147.94 của anh Nguyễn Xuân H4; 01 xe mô tô biển số 98N8-4301 của anh Nguyễn Huy T1, chiếc tô vít của chị Nguyễn Thị T4. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  8. [8]. Trách nhiệm dân sự: anh Vương Bá Đ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí đi lại và tổn thất tinh thần là 6.000.000 đồng; xét thấy chi phí đi lại đến làm việc với cơ quan tố tụng của bị hại và tổn thất về tinh thần không thuộc trường hợp bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đ nên cần chấp nhận sự tự nguyện này.

    Đối với yêu cầu của anh H2 yêu cầu bị cáo trả lại tổng số tiền 9.500.000 đồng đã cho bị cáo vay khi đến thế chấp cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh H2.

  9. [9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
  10. [10]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/10/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 589 BLDS buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại cho anh Nguyễn Gia H2 số tiền 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng); bồi thường cho anh Vương Bá Đ số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 775.000 đồng (Bẩy trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Văn Trường

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - CQ CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - UBND xã (phường) bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 53/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hải - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger