|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày 06-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Mạnh Hùng |
| Ông Trần Ngọc Tân |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 125/TB-TA, ngày 25/02/2025 đối với các bị cáo:
- Bùi Đức D, sinh ngày 13/12/1987, tại Hải Phòng. ĐKHKTT và nơi ở: Số B cụm F, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức P (đã chết) và bà Hồ Thị H, bị cáo có vợ là Hoàng Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Hoàng Thị T, sinh ngày 30/12/1994, tại Hải Phòng. ĐKHKTT và nơi ở: Số B cụm F, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ơ và bà Nguyễn Thị D1, bị cáo có chồng là Bùi Đức D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Đoàn Mạnh P3, sinh ngày 18/5/1995, tại Hải Phòng. ĐKHKTT và nơi ở: Khu E, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Mạnh S và bà Nguyễn Thị V, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hoài P1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 15/4/1990, tại Hải Phòng. ĐKHKTT và nơi ở: Số F B, phường T (nay là phường T), quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P2; bị cáo có vợ là Đỗ Thị Thùy N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Vũ Thu U, sinh ngày 07/8/1998, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số F T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng D2 và bà Lê Thị T3, bị cáo có chồng là Hoàng Văn B và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 6 giờ 15 phút ngày 19/5/2024, tại nơi ở của Bùi Đức D tại Số B Cụm F, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố H bắt quả tang Bùi Đức D, Đoàn Mạnh P3 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện có 14 người có dấu hiệu của việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Tiến hành xét nghiệm thử phản ứng với các chất ma tuý của toàn bộ các đối tượng có mặt tại địa chỉ trên cho kết quả 14/14 người dương tính với các chất ma tuý gồm: Đoàn Mạnh P3 (Nguyên là cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện T, thành phố Hải Phòng); Bùi Đức D; Vũ Thu U; Nguyễn Thanh T1; Bùi Đức H1, sinh năm 1994, trú tại: Số B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Phạm Thùy L, sinh năm 1999, trú tại: Số B T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; Phan Thị O, sinh năm 1992, trú tại: Số C A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; Lưu Thị Hoàng A, sinh năm 2001, trú tại: Tổ dân phố số B, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Khắc H2, sinh năm 1995, trú tại: Thôn H, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Phạm Thanh T4, sinh năm 1998, trú tại: Số B L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1998, trú tại: Số A H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng dương tính với ma túy loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine; Nguyễn Thị Hoài P1, sinh năm 1996, trú tại: Khu E thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng dương tính với ma tuý loại MDMA, Hoàng Văn B, sinh năm 1993, trú tại: Số F T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng dương tính với ma túy loại Ketamine; Hoàng Thị T dương tính với ma túy loại MDMA, Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ (theo Kết luận giám định số 615/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H):
- T5 tại tủ cạnh giường ở phòng ngủ phía trước tầng 2:
- + Thu trên mặt tủ 01 túi nilon màu trắng có khóa mép kích thước khoảng 02x02cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,18 gam;
- + Thu dưới gầm tủ 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamine khối lượng 0,33 gam; 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng và 01 thẻ nhựa cứng đều bám dính tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
- Thu giữ trong túi quần Nguyễn Thanh T1: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp vuông trong chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy, khối lượng: 0,31 gam, loại: Ketamine.
- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Đức D thu giữ ở bên trong ngăn kéo tủ cạnh giường ngủ phía trước tầng 2:
- + 01 bát kim loại bên trong chứa dung dịch màu cam gửi giám định có thể tích 95ml, tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine, Methamphetamine, N2.
- + 01 hộp kim loại bên trong có 06 túi nilon màu trắng có khóa mép viền màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng có khóa mép viền màu xanh kích thước mỗi túi đều khoảng 2x2 cm bên trong đều bám dính tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy, loại: Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng ma túy bám dính.
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Bùi Đức D, Đoàn Mạnh P3, Vũ Thu U, Hoàng Thị T, Nguyễn Thanh T1 mỗi đối tượng 01 điện thoại đi động; thu giữ của Nguyễn Thanh T1 01 xe ô tô BKS 15K-221.75, thu giữ của Đoàn Mạnh P3 01 xe ô tô BKS 15A-645.84 và thu giữ của Bùi Đức H1 01 xe ô tô BKS 18A-381.80.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau:
Ngày 18/05/2024, P3 cùng vợ là Nguyễn Thị Hoài P1 mời Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Bùi Đức H1, Phạm Thùy L, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Khắc H2, Phạm Thanh T4, Hoàng Văn B, Vũ Thu U, Nguyễn Thị Bích N1, Lưu Thị Hoàng A, Phan Thị O đến dự sinh nhật P3 và con trai tại Camping Đ, quận D, thành phố Hải Phòng. Do Uyên nảy sinh ý định mua ma tuý tặng quà sinh nhật P3 nên chiều cùng ngày, U liên lạc qua Telegram hỏi mua của một nam giới sử dụng tài khoản “Nét Phích” (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) 03 gói Ketamine. Nam giới trên báo giá 800.000 đồng/01 gói Ketamine và hẹn U giao dịch tại khu vực cổng trường A3, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Tại điểm hẹn, U mua của Nam giới trên 03 gói Ketamine với giá 2.400.000 đồng rồi cất vào túi xách để đến tối tặng sinh nhật P3. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi tổ chức ăn liên hoan chúc mừng sinh nhật xong, P3 bảo D và mọi người về nhà D để nghe nhạc và sử dụng ma tuý, D và mọi người đồng ý. D bảo P3 để D lấy thuốc lắc tặng sinh nhật P3 và liên hệ với một đối tượng tên H3 hỏi mua 10 viên thuốc lắc, H3 báo giá 260.000 đồng/01 viên, hẹn giao dịch ở khu vực gần cây xăng Đ, đường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Sau đó cả nhóm di chuyển về nhà D còn D đi cùng xe ô tô BKS 15K-221.75 do Nguyễn Thanh T1 điều khiển, D bảo T1 đi đến khu vực cây xăng Đ có việc. Tại đây, D xuống xe đi vào ngõ cạnh cây xăng, gặp và mua của H3 10 viên thuốc lắc với giá 2.600.000 đồng. Mua được ma tuý, D cất vào túi quần rồi lên xe ô tô đi về nhà. Khi xuống xe, D hỏi T1 tặng quà sinh nhật P3 chưa thì T1 bảo chưa. D bảo vừa mua 10 viên thuốc lắc hết tổng số tiền 2.600.000 đồng và đặt vấn đề với T1 chung tiền mua thuốc lắc để tặng quà sinh nhật P3, mỗi người một nửa là 1.300.000 đồng, T1 đồng ý. Khi về đến nhà, D nảy sinh ý định sử dụng thêm ma tuý nước vui nên D liên lạc tiếp với H3 hỏi mua 02 gói nước vui. H3 báo giá 2.500.000 đồng/01 gói và hẹn D giao dịch tại địa điểm cũ. D mượn xe ô tô của T1 một mình điều khiển ra khu vực trên và mua của H3 02 gói nước vui với tổng số tiền 5.000.000 đồng. Đến khoảng 00 giờ ngày 19/5/2024, cả nhóm đến nhà vợ chồng D, T tại địa chỉ: Số B Cụm F, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng đông đủ gồm P1, N1, D, T, H1, L, T1, Hoàng A, T4, H2, U, B và O thì lên phòng ngủ của vợ chồng D, T tại tầng 2 để nghe nhạc và sử dụng ma tuý. Tại đây, D đưa P3 01 túi nilon trong chứa 10 viên thuốc lắc, P3 tự sử dụng 01 viên thuốc lắc, đưa N1 ½ viên thuốc lắc để sử dụng, lấy 02 viên thuốc lắc đưa cho T1, T1 sử dụng 01 viên và đưa cho Hoàng A 01 viên để sử dụng. P3 đưa cho H2 2,5 viên thuốc lắc nhưng H2 chỉ sử dụng 01 viên còn 1,5 viên H2 để xuống bàn. Số thuốc lắc còn lại P3 để trên mặt bàn để mọi người tự sử dụng thì D, U, T mỗi người tự sử dụng 01 viên thuốc lắc; O, P1, H1, T4 mỗi người tự sử dụng ½ viên thuốc lắc. Sử dụng xong thuốc lắc, U để các túi Ketamine lên trên bàn cạnh giường ngủ, T nhìn thấy số Ketamine trên nên đã xuống bếp lấy đĩa và thẻ nhựa cứng, để lên phòng cho mọi người đánh K sử dụng. Uyên đổ các túi Ketamine ra đĩa, dùng thẻ nhựa đánh Ketamine rồi lấy ở trong ngăn tủ 01 ống hút được cuộn sẵn bằng tờ tiền 10.000 đồng để lên đĩa Ketamine. Uyên sử dụng Ketamine trên đĩa xong thì đưa đĩa cho P3, T1 sử dụng. T1 sử dụng xong thì xúc một ít Ketamine cho vào tờ 5.000 đồng để tiện sau đó tự sử dụng và để đĩa Ketamine xuống sàn nhà. Sau đó D, O, H1, B, H2 đã tự sử dụng Ketamine trên đĩa. Sử dụng xong Ketamine, D lấy 02 túi nước vui pha với nước ngọt và để ra bát ở trên nền nhà cho mọi người sử dụng. Lần lượt P3, D, U, T1, T, O, H1, Hoàng A, T4, L, H2, N1 đã sử dụng nước vui trong bát. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 19/5/2024 khi cả nhóm đang nghe nhạc và sử dụng ma tuý thì cơ quan Công an vào kiểm tra, bắt quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Mạnh P3, Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Nguyễn Thanh T1, Vũ Thu U, Nguyễn Thị Hoài P1, Bùi Đức H1, Phạm Thùy L, Nguyễn Khắc H2, Phạm Thanh T4, Hoàng Văn B, Nguyễn Thị Bích N1, Lưu Thị Hoàng A, Phan Thị O khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Bùi Đức D khai nhận khi D bảo T1 chở đến khu vực H3 hẹn và mượn xe của T1 để đi mua nước vui thì D không bảo với T1 là đi mua ma tuý để cả nhóm sử dụng. Đối với tiền mua thuốc lắc thì D và T1 sẽ chia đôi còn tiền mua nước vui thì D không yêu cầu mọi người phải đóng góp. Đối với các vỏ túi nilon thu giữ trong chiếc hộp ở phòng ngủ của D, D khai là các vỏ túi Ketamine D3 mua trước đó để bản thân sử dụng và vứt vỏ túi vào trong đó.
Nguyễn Thanh T1 khai khi chở D3 đến khu vực cây xăng Đ và đưa xe cho Dương mượn thì T1 không biết D3 đi mua ma tuý. Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng chứa ma tuý thu giữ của T1, T1 khai do nhiều người sử dụng ma tuý và chỉ có 01 đĩa Ketamine nên T1 tự tách một phần Ketamine cho lên tờ tiền để tiện bản thân sử dụng, không phải lấy đĩa để sử dụng ma tuý nữa, tuy nhiên T1 chưa kịp sử dụng hết số Ketamine trong tờ tiền thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.
Vũ Thu U khai nhận ngày 18/5/2024 được P3 mời đi dự sinh nhật, U đã nảy sinh ý định mua Ketamine tặng quà sinh nhật P3 và không yêu cầu mọi người phải đóng góp tiền mua ma tuý.
Lời khai nhận tội của Đoàn Mạnh P3, Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Nguyễn Thanh T1, Vũ Thu U phù hợp với lời khai của những người được cung cấp ma tuý, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định:
Từ khoảng 00h00 phút đến 06 giờ 15 phút ngày 19/5/2024, Bùi Đức D, Hoàng Thị T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều đôi tượng khác gồm bản thân các bị can và 12 đối tượng khác gồm: Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1, Vũ Thu U, Nguyễn Thị Hoài P1, Bùi Đức H1, Phạm Thùy L, Nguyễn Khắc H2, Phạm Thanh T4, Hoàng Văn B, Nguyễn Thị Bích N1, Lưu Thị Hoàng A, Phan Thị O.
Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho cho nhiều đối tượng khác gồm bản thân các bị can và 10 đối tượng khác gồm gồm Lưu Thị Hoàng A, Nguyễn Khắc H2, Bùi Đức D, Vũ Thu U, Hoàng Thị T, Phan Thị O, Nguyễn Thị Hoài P1, Bùi Đức H1, Phạm Thanh T4, Nguyễn Thị Bích N1.
Vũ Thu U đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho 08 đối tượng khác Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1, Bùi Đức D, Nguyễn Thị Bích N1, Phan Thị O, Bùi Đức H1, Hoàng Văn B, Nguyễn Khắc H2.
Đối với nam giới sử dụng tài khoản Telegram “Nét Phích” đã bán ma tuý cho U chiều ngày 18/5/2024, do U không khai nhận được nhân thân lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, làm rõ.
Đối với đối tượng tên H3 theo Bùi Đức D khai nhận đã bán ma tuý cho D tối ngày 18/5/2024 qua xác minh là Phạm Văn H4, sinh năm 1992, trú tại: Tổ C, cụm E, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Tiến hành xác minh tại nơi cư trú, H3 vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của D không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh H3 là đối tượng bán ma tuý cho D nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý là có căn cứ.
Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma tuý cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định và các đồ vật, tài sản khác được thu giữ trong quá trình điều tra – chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Đối với 01 xe ô tô BKS 18A-381.90 thu giữ của Bùi Đức H1, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là anh Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (bạn xã hội với H1). Anh Tuấn A2 khai cho H1 mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết, không liên quan đến việc H1 sử dụng ma tuý tại nhà D nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Tuấn A2.
Đối với 01 xe ô tô BKS 15A-645.84 thu giữ của Đoàn Mạnh P3, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là chị Phạm Thị M, sinh năm 1987, trú tại: Số A Đ, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng (chị dâu của P3). Chị M khai cho P3 mượn xe để đi công việc, không biết và không liên quan đến hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của P3 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị M.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSHP-P1 ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phong đã truy tố bị cáo Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1, Vũ Thu U về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, các bị cáo thừa nhận các loại ma tuý và số người sử dụng ma tuý như bản cáo trạng truy tố là đúng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Đại diện Viện kiểm sát phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá tính chất vụ án, phân hoá vai trò các bị cáo, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, (bị cáo P3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức D, từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Hoàng Thị T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đoàn Mạnh P3, từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Vũ Thu U từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Nguyễn Thanh T1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám đinh và các vật dụng không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các điện thoại di động thu của bị cáo D và bị cáo U, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng.
Trả lại bị cáo T1 01 xe ô tô, 01 điện thoại di động.
Trả lại bị cáo P3 01 điện thoại di động, bị cáo T 01 điện thoại di động.
Trả lại bị cáo D 01 căn cước công dân.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ các lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai làm chứng kiến, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 00h00 phút đến 06 giờ 15 phút ngày 19/5/2024, Bùi Đức D, Hoàng Thị T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều đối tượng khác gồm bản thân các bị cáo và 12 đối tượng khác;
Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều đối tượng khác gồm bản thân các bị cáo và 10 đối tượng khác.
Vũ Thu U có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho 08 đối tượng khác
Hành vi của bị cáo Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1 và Vũ Thu U đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1 và Vũ Thu U có hành vi tổ chức sử dụng ma tuý cho nhiều người, nên hành vi của các bị cáo Bùi Đức D, Hoàng Thị Thi Đoàn Mạnh P3, Nguyễn Thanh T1 và Vũ Thu U đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
b) Đối với 02 người trở lên;
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đoàn Mạnh P3 có thành tích xuất sắc trong học tập và trong công tác được tặng thưởng Bằng khen và Giấy khen nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Vai trò của các bị cáo: Hội đồng xét xử phân hoá vai trò các bị cáo như sau. Bị cáo Bùi Đức D có vai trò cao nhất trong vụ án, bị cáo dùng nhà ở của bị cáo để làm nơi tổ chức sử dụng ma tuý cho cả nhóm, bị cáo đã chủ động mua ma tuý thuốc lắc và nước vui, bị cáo đưa ketamine cho bị cáo P3 và tự tay pha nước vui để cho cả nhóm sử dụng do vậy hình phạt của bị cáo D là cao nhất.
Bị cáo Vũ Thu U chủ động mua 03 gói ma tuý ketamine mang đến làm quà tặng sinh nhật P3 để cho cả nhóm sử dụng, bị cáo đã đổ ketamine ra đĩa và dùng thẻ nhựa đánh ketamine cho mọi người sử dụng.
Bị cáo Hoàng Thị T là vợ của bị cáo D, bị cáo đã dùng nhà ở của mình cùng với chồng là bị cáo D để tổ chức cho cả nhóm sử dụng ma tuý, bị cáo T đã chuẩn bị đĩa và thẻ nhựa cho mọi người sử dụng ketamine.
Bị cáo Đoàn Mạnh P3 là người đề xuất việc sử dụng ma tuý, bị cáo nhận ma tuý ketamine từ bị cáo D sau đó đưa cho một số người sử dụng còn lại bị cáo để trên bàn cho mọi người tự lấy sử dụng, Hội đồng xét xử xét vai trò của bị cáo U, bị cáo P3 và bị cáo T là ngang nhau và thấp hơn vai trò bị cáo D.
Bị cáo Nguyễn Thanh T1 có vai trò thấp nhất, bị cáo được bị cáo D rủ chung tiền mua ma tuý ketamine, bị cáo không trực tiếp mua ma tuý chỉ góp một nửa tiền với bị cáo D, trong khi sử dụng ma tuý bị cáo không chuẩn bị dụng cụ và không có hành vi nào khác nên hình phạt của bị cáo là thấp nhất.
[6] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo Bùi Đức D, Đoàn Mạnh P3, Hoàng Thị T và Vũ Thu U mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới đủ để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Bị cáo Đoàn Mạnh P3 có vai trò ngang với bị cáo T và bị cáo U nhưng bị cáo P3 có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án của bị cáo U và bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Thanh T1 xử mức án khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không nhằm mục đích thu lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Số ma tuý còn lại sau giám định không được phép sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
03 vỏ túi nilon, 01 ví màu nâu, 01 bát kim loại, 01 đĩa màu trắng hình tròn, 01 hộp kim loại có chữ DOUBLEMINT, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng và 02 chiếc điện thoại di động thu của bị cáo D và bị cáo U liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 15K-221.75 có số máy: G4LAPM718486, số khung: RLUB351CBPN021896 và 01 điện thoại di động là tài sản của bị cáo Nguyễn Thanh T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo T1.
01 điện thoại di động thu của bị cáo P3 và 01 điện thoại di động thu của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại các bị cáo.
01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Đức D là giấy tờ cá nhân của bị cáo D nên trả lại bị cáo sử dụng.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11] Các vấn đề khác: Đối với các đối tượng có kết quả dương tính với ma túy gồm: Nguyễn Thị Hoài P1, Bùi Đức H1, Phạm Thùy L, Nguyễn Khắc H2, Phạm Thanh T4, Hoàng Văn B, Nguyễn Thị Bích N1, Lưu Thị Hoàng A, Phan Thị O. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo P3 ); Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Đoàn Mạnh P3, Vũ Thu U và Nguyễn Thanh T1 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt Bùi Đức D 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.
- Xử phạt Vũ Thu U 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
- Xử phạt Hoàng Thị T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
- Xử phạt Đoàn Mạnh P3 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.
- Xử phạt Nguyễn Thanh T1 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong các phong bì sau:
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại dấu niêm phong số 615MT/PC09 của Phòng K1 - Công an thành phố H, trên niêm phong có chữ ký của những người liên quan.
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại dấu niêm phong số 615MT-C/PC09 của Phòng K1 - Công an thành phố H, trên niêm phong có chữ ký của những người liên quan.
- 01 (một) phong bì niêm phong số 4191/KL-KTHS của V1, trên niêm phong có chữ ký của Đinh Thị T6, Mạc Văn C.
Tịch Thu tiêu huỷ 03 vỏ túi nilon có chữ FERRARI; 01 bát kim loại; 01 đĩa màu trắng hình tròn; 01 hộp kim loại có chữ DOUBLEMINT và 01 ví màu nâu.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các tài sản sau:
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động iphone màu vàng, đã qua sử dụng của Vũ Thu U trên khay sim có dãy số: 351330880519000 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8401201124330675.
- 01 (một) điện thoại di động iphone màu đen, đã qua sử dụng của Bùi Đức D trên khay sim có dãy số: 356166092051597 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8401180112544118OT.
Trả lại bị cáo Hoàng Thị T 01 (một) điện thoại di động iphone màu đỏ, đã qua sử dụng của Hoàng Thị T trên khay sim có dãy số: 352484682004981 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8984048000903654048.
Trả lại bị cáo Đoàn Mạnh P3 01 (một) điện thoại di động iphone màu xanh, đã qua sử dụng của Đoàn Mạnh P3, trên khay sim có dãy số: 350472593465625 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8984048000919349550.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh T1 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 15K-221.75 có số máy: G4LAPM718486, số khung: RLUB351CBPN021896 và 01 (một) điện thoại di động iphone màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T1 trên khay sim có dãy số: 353997891429417 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8401220750917833.
Trả lại bị cáo Bùi Đức D 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Đức D.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 5000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đang quản lý.
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo, Bùi Đức D, Hoàng Thị T, Nguyễn Thanh T1, Đoàn Mạnh P3 và Vũ Thu U mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 9 năm tù
