|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày: 05/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ-HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quang Tố
- Ông Dương Tuấn Anh.
Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Kiều Oanh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, quận T, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 03/4/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Đinh Hữu H
sinh ngày 10/8/1989 tại thành phố H; Số CCCD: [...]; nơi thường trú: 1 B, phường P, quận T, thành phố H; chỗ ở: 2 Q, phường T, quận T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Xuân H1, sinh năm 1962 và bà Phan Thị T, sinh năm 1961; vợ: Dương Thị H2, sinh năm 1993; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tháng 02/2009, nhập ngũ tham gia lực lượng Công an nhân dân, công tác tại Công an thành phố H (cũ) sau đó chuyển công tác đến Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ), đến tháng 11/2021 ra quân. Ngày 5/8/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ) xử phạt 07 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Bản án số 219/2024/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C (đóng tại tỉnh Quảng Bình). Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H, do Cơ quan điều tra Công an thành phố H trích xuất từ ngày 10/12/2024 đến ngày 10/6/2025.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Diệu P, sinh năm 1980. Địa chỉ: 1 B, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đinh Xuân H1, sinh năm 1962. Nơi thường trú: 1 B, phường P, quận T, thành phố H; chỗ ở: 2 Q, phường T, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1990. Địa chỉ: 2 P, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/3/2021, Đinh Hữu H đến nhà chị Nguyễn Thị Diệu P (Sinh năm: 1980. Thường trú tại: 1 B, phường P, quận T, thành phố H) để thuê xe ô tô hiệu MAZDA 3 màu trắng, BKS: 75A - 060.13 để dùng làm phương tiện đi lại trong thời gian 02 đến 03 ngày, tiền thuê xe hai bên thống nhất H phải trả là 300.000 đồng đến 500.000 đồng/01 ngày. Do trước đây H đã nhiều lần thuê xe chị P để sử dụng thì H đều trả xe đúng hạn và thanh toán tiền thuê xe đầy đủ nên lần này chị P đồng ý. Chị phương giao chìa khóa và xe ô tô 75A-060.13 cho H. Từ ngày 23/3/2021 đến 26/3/2021, H sử dụng xe đi thăm người thân tại tỉnh Quảng Bình sau đó vào Huế và tiếp tục sử dụng xe làm phương tiện đi lại. Thời gian này, H có tham gia đánh bạc bằng bình thức cá độ bóng đá dẫn đến thua nợ, H vay mượn tiền của nhiều người ngoài xã hội nên đến hạn phải trả nợ. Lúc này, H nảy sinh ý định mang xe ô tô của chị P đi cầm cố lấy tiền trả nợ. Do xe không có giấy tờ nên H đã mang đi ngoại tỉnh cầm cố, thông qua bạn bè xã hội H có số điện thoại của một người đàn ông ở tỉnh Quảng Trị (không xác định nhân thân, lai lịch) và chủ động liên lạc với người này trao đổi, thỏa thuận việc cầm cố xe. Ngày 27/3/2021, H chạy xe ô tô 75A-060.13 từ Huế ra khu vực cầu T (thị xã Q, tỉnh Quảng Trị) gặp người này và cầm xe ô tô 75A-060.13 với số tiền 100 triệu đồng. H và người đàn ông này thỏa thuận miệng, không viết giấy tờ. Người này đưa cho H 90 triệu đồng tiền mặt, lấy trước tiền lãi 10 triệu đồng và mang xe ô tô đi, còn H nhận tiền rồi đón xe khách về lại Huế. Số tiền có được do cầm xe ô tô, H trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Quá thời hạn trả xe và trả tiền thuê xe chị P gọi điện và tìm H để đòi nhưng do xe đã đem đi cầm cố nên H lẩn tránh, cắt liên lạc với chị P.
Đến tháng 04/2021, H hẹn chị P đến uống cà phê tại khu vực ngã tư đường B - N thuộc phường P, tại đây, H thừa nhận với chị P việc đưa xe ô tô 75A-060.13 của chị P đi cầm cố và xin cho thêm thời gian chuộc lại xe ô tô về trả nhưng sau đó H vẫn không thực hiện. Ngày 05/5/2021, chị P đã viết đơn tố cáo H có hành vi chiếm đoạt xe ô tô 75A-060.13 gửi cơ quan Công an.
Sợ bị ảnh hưởng công việc của mình, H kể việc mình thuê xe của chị P và kẹt tiền nên đã đem đi cầm cố cho ông Đinh Xuân H1 (sinh năm: 1962, bố ruột H) để nhờ ông H1 giúp đỡ mượn tiền đi chuộc xe đem trả, thì ông H1 đồng ý. Đến khoảng cuối tháng 5/2021, H liên lạc lại với người đàn ông ở Quảng Trị hẹn để chuộc lại xe; sau đó H lái xe mô tô chở ông H1 đi ra khu vực cầu T để lấy lại xe ô tô 75A-060.13. H đưa cho người này tổng cộng số tiền 140 triệu đồng (100 triệu đồng tiền cầm xe, 40 triệu đồng tiền lãi) và nhận lại xe ô tô 75A-060.13. H nhờ ông H1 lái xe ô tô 75A-060.13, còn H lái xe mô tô cùng chạy vào Huế. Ngày 30/5/2021, H mang xe ô tô 75A-060.13 trả lại cho chị P.
Ngày 23/8/2021, H được Công an thành phố H (cũ) mời đến làm việc, lúc này H đang là cán bộ của Công an huyện P, do nghĩ rằng xe đã chuộc lại và
mang trả cho chị P, cũng như sợ ảnh hưởng công việc nên H viết bản tường trình ghi nội dung thể hiện: “Hưng có thuê xe ô tô 75A-060.13 của bà P vào tháng 04/2021 và sử dụng đến tháng 05/2021 thì bị bà P đòi lại xe nhưng do H đang đi có việc nên chưa có thời gian trả lại, sau đó nghe chị P dọa sẽ báo Công an nên H bực tức và nói đã mang xe đi cầm cố”. Công an thành phố H (cũ) đã thông báo trả lời cho chị P sự việc trên là quan hệ dân sự. Đến tháng 10/2021, H có đơn xin ra khỏi lực lượng Công an nhân dân. Ngày 31/12/2023, H có hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", bị Tòa án nhân thành phố H (cũ) phạt 7 năm 02 tháng tù, chấp hành án tại Trại giam Đ, tỉnh Quảng Bình.
Tháng 10/2024, Đoàn Thanh tra Bộ C tại Công an tỉnh T (nay là thành phố H) phát hiện vụ việc trên và đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp nhận, xác minh. Khi Cơ quan điều tra làm việc với H tại Trại giam Đ, tỉnh Quảng Bình, H đã thành khẩn khai báo thêm nhiều tình tiết liên quan hành vi phạm tội của mình; thừa nhận trước đây tại Công an thành phố H (cũ) H cố ý khai không đúng sự thật.
Đối với ông Đinh Xuân H1 (bố ruột của H) không biết việc H chiếm đoạt xe ô tô trên mang đi cầm cố, sau khi biết H thuê xe của chị P mang đi cầm cố thì đã vay tiền ngân hàng và cùng H đi chuộc xe về trả lại cho chị P, ông H1 nên không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch ở thị xã Q đã nhận cầm cố xe ô tô, quá trình điều tra không có căn cứ xác minh, triệu tập, làm việc nên không có căn cứ xem xét xử lý. Đối với việc bị cáo H khai do cá độ bóng đá và nợ nần ngoài xã hội nên thuê xe của chị P mang đi cầm cố để lấy tiền trả nợ nhưng do thời gian xảy ra đã lâu, H không nhớ cá độ ở đâu và với ai nên không có căn cứ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.
*Tại Kết luận định giá tài sản số 3800/KLĐG-HĐĐGTS ngày 23/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận: Giá trị của xe ô tô Mazda 3, biển số 75A- 060.13 tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 27/3/2021 là: 287.105.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Diệu P đã nhận lại xe ô tô do H giao trả nên không có yêu cầu gì.
Tại Bản cáo trạng số Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Đinh Hữu H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố Đinh Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Hữu H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Tổng hợp hình phạt 07 năm 02 tháng tại Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), buộc bị cáo Đinh Hữu H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
- Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện và ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
[2]. Đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22 tháng 3 năm 2021, tại thành phố H, Đinh Hữu H thuê xe ô tô hiệu MAZDA 3, BKS: 75A - 060.13 của chị Nguyễn Thị Diệu P để đi lại. Sau đó, do cần tiền để sử dụng mục đích cá nhân và trả nợ nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe. Ngày 27/3/2021, H đem xe ô-tô ra khu vực cầu T (thị xã Q, tỉnh Quảng Trị) cầm cố cho một người không xác định được lai lịch lấy tiền tiêu xài. Xe ô tô có trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 287.105.000 đồng. Với hành vi nêu trên, Đinh Hữu H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được hành vi thuê xe ô tô của người khác để sử dụng, sau đó không trả lại mà đem cầm cố lấy tiền tiêu xài là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt tương đối lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc để bảo đảm giáo dục, răn đe, phòng ngừa.
Đến trước thời điểm phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; đã chuộc lại xe ô-tô trả lại cho bị hại; trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; có thời gian phục vụ trong lực lượng công an nhân dân. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt: Xét bị cáo Đinh Hữu H có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ pháp luật.
Do bị cáo Đinh Hữu H đang chấp hành hình phạt 07 năm 02 tháng tù tại bản án số 219/2024/HS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ) nên cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Đinh Hữu H phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Đinh Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
2. Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 56 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh Hữu H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 02 tháng tại Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), buộc bị cáo Đinh Hữu H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 (Chín) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 31/12/2023.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc Đinh Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Tôn Minh Hiền |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
