|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HS-ST
Ngày: 02-4-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Minh Tuấn
- Bà Đào Ngọc Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàn Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Huỳnh H (tên gọi khác: Hương Mắt L, Gà C); sinh ngày:
11/6/1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 01 Cư xá đường sắt, L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 01 Cư xá đường sắt, L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V (chết) và bà: Huỳnh Thị Ngọc S (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/05/2004 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 10 tháng tù giam theo Bản ản số 110/HSST ngày 08/9/2004. Chấp hành án đến ngày 25/8/2005 hết án tha. Chấp hành nộp án phí, bồi thường dân sự xong ngày 21/4/2006. Ngày 10/12/2009, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam theo Bản ản số 91/HS-ST ngày 16/8/2010, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Chấp hành án đến ngày 20/3/2012, giảm án tha.
Chấp hành nộp án phí xong ngày 07/3/2011. Ngày 20/01/2011, “Cưỡng đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 03 năm tù giam theo bản ản số 43/2012/HS-ST ngày 19/4/2012. Chấp hành án đến ngày 21/11/2014 giảm án tha. Chấp hành nộp án phí xong ngày 20/9/2012. Ngày 22/12/2015 “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân Quận 4 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo quyết định số 49/QĐ-TA ngày 28/01/2016. Chấp hành xong ngày 30/10/2017. Ngày 29/6/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định số 24/QĐ-UBND đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội T2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/8/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D ra quyết định hủy quyết định để thi hành Lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q. Ngày 26/6/2019, “Cưỡng đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam theo Bản ản số 96/HSST ngày 28/11/2019. Chấp hành án đến ngày 05/12/2021, giảm án tha. Chấp hành nộp án phí và nộp phạt xong ngày 09/11/2021. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/10/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Anh Vương Đức M, sinh năm: 2005 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ O khối nhà O, Khu P, Số B Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Thanh K, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Thúy H1, sinh năm: 1979 (vắng mặt).
- Ông Dương Thành T, năm sinh: 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: D Lô B, Chung cư L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A Chung cư C, V, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: C đường B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 11/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H điều khiển xe mô tô, biển số 59F1-388.44 lưu thông trong hẻm H đường L, Phường A, Quận A. Lúc này, bị cáo H phát hiện anh Vương Đức M đang điều khiển xe một mình chạy cùng chiều với bị cáo H trong hẻm nên nảy sinh ý định cưỡng đoạt tiền của anh M. Bị cáo H điều khiển xe chạy kè áp sát anh M và đưa ra lý do việc anh M va quẹt với xe của bạn của bị cáo H, yêu cầu anh M bồi thường tiền nếu không sẽ kêu bạn đến đánh anh M. Do lo sợ bị đánh nên khi đến trước địa chỉ H đường L, Phường A, Quận A, anh M dừng xe lại và đưa cho bị cáo H 200.000 đồng. Bị cáo H nói không đủ, yêu cầu anh M đưa thêm, anh M đưa thêm 900.000 đồng. Bị cáo H tiếp tục nói với anh M không đủ, không đưa thêm sẽ kêu người đến đánh. Anh M hết tiền mặt nên nói sẽ chuyển khoản ngân hàng thì bị cáo H đồng ý. Sau đó, bị cáo H yêu cầu anh M chuyển 7.700.000 đồng vào tài khoản số 9190383839 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1, do bà Võ Thị Thúy H1 - là chủ tài khoản và chuyển 1.600.000 đồng vào số tài khoản 3985373839 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1, do Dương Thành T - là chủ tai khoản. Sau khi chuyển khoản tiền xong anh M được H cho đi. Đến ngày 16/10/2024, anh Vương Đức M đến Công an P, Quận A trình báo. Công an P, Quận A lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 (nay là Công an Thành phố H cơ sở Quận A) điều tra xử lý.
Ngày 19/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 (nay là Công an Thành phố H cơ sở Quận A) đã khởi tố bắt tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tiền của anh Vương Đức M như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo H phù hợp với hình ảnh Camera thu giữ tại hiện trường, lời khai bị hại. Sau khi yêu cầu anh M chuyển số tiền 7.700.000 vào tài khoản của bà H1 thì bị cáo H trả nợ cho bà H1 2.200.000 đồng, số tiền 5.500.000 đồng nhờ bà H1 chuyển cho ông Trần Thanh K nhờ giữ hộ. Bị cáo H có vay tiền của ông Dương Thành T nên đã kêu anh M chuyển số tiền 1.600.000 đồng để trả nợ. Bị cáo H không nói cho bà H1, ông T, ông K biết số tiền trên do bị cáo H phạm tội mà có.
Bà Võ Thị Thúy H1 khai, bị cáo H có mượn của bà Hằng số tiền 2.200.000 đồng. Ngày 11/10/2024 bị cáo H điện thoại nói chuyển khoản vào tài khoản của bà H1 để trả nợ, bà H1 kiểm tra tài khoản có thông báo nhận số tiền từ tài khoản số 0778683028 tên VUONG DUC MINH với số tiền 7.700.000 đồng. Sau đó bị cáo H đến gặp bà H1 yêu cầu chuyển số tiền 5.500.000 đồng đến tài khoản số 04088199601 do ông Trần Thanh K chủ tài khoản. Bà H1 không biết số tiền trên do bị cáo H phạm tội mà có, bà H1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.200.000 đồng.
Ông Dương Thành T khai ngày 11/10/2024, bị cáo H có điện thoại nói có chuyển khoản trả nợ, ông T kiểm tra tài khoản có nhận được số tiền 1.600.000 đồng từ tài khoản 0778683028 tên VUONG D và báo lại cho bị cáo H đã nhận được tiền. Ông T không biết số tiền trên do bị cáo H phạm tội mà có và đã tự giao nộp số lại số tiền 1.600.000 đồng.
Ông Trần Thanh K khai là anh rể của bị cáo H, ngày 11/10/2024 bị cáo H có gọi cho ông K biết là bà H1 có chuyển khoản số tiền 5.500.000 đồng vào tài khoản của ông K và nhờ giữ hộ. Ông K kiểm tra tài khoản thì có nhận được số tiền trên. Ông K không biết số tiền trên do phạm tội mà có. Ông K đã trả số tiền 5.500.000 đồng cho anh Vũ Đức M1.
Vật chứng vụ án tạm giữ:
- 01 xe máy, biển số: 59F1-388.44, số khung: RLHJF3302CY616742, số máy JF33E-0279476. Kết luận giám định số khung số máy không đổi. Kết quả xác minh xe do Trần Thanh T1, địa chỉ: D Lô B, Cư xá Đường S, Phường A, Quận C, đứng tên đăng ký sở hữu. Kết quả xác minh bà Trần Thanh T1 đi định cư nước ngoài. Ông Trần Thanh K, là cha ruột của bà T1, ông K được bà T1 giao quản lý và sử dụng chiếc xe trên. Ông K là anh rể của bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H. Ngày 11/10/2024 ông K có cho bị cáo H mượn chiếc xe trên để đi mua đồ, ông K không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 (nay là Công an Thành phố H cơ sở Quận A) đã trả chiếc xe trên cho ông K quản lý.
- 01 mũ bảo hiểm, 01 áo sơ mi ngắn tay, 01 quần kaki ngắn là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 chiếc điện thoại di động Samsung A05s, là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội.
- Số tiền 3.538.000 đồng, bị cáo H giao nộp.
- Số tiền 2.200.000 đồng, bà Võ Thị Thúy H1 tự nguyện giao nộp.
- Số tiền 1.600.000 đồng ông Dương Thành T tự nguyện giao nộp.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Dân sự: Anh Vương Đức M đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt 5.500.000 đồng và yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 4.900.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKSQ10 ngày 11 tháng 03 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 5 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Huỳnh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố H cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố H cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, hình ảnh Camera, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H đã có hành vi đe dọa dùng lũ lực, uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt số tiền 10.400.000 đồng của anh Vương Đức M. Do vậy, bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H bị truy tố và xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nhân thân không tốt. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về dân sự: Anh Vương Đức M đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt 5.500.000 đồng và yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 4.900.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 mũ bảo hiểm, 01 áo sơ mi ngắn tay, 01 quần kaki ngắn. Xét thấy đây là trang phục bị cáo H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung A05s. Xét thấy đây là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo nhưng cần kê biên để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với số tiền 2.200.000 đồng do bà Võ Thị Thúy H1 tự nguyện giao nộp và số tiền 1.600.000 đồng ông Dương Thành T tự nguyện giao nộp. Xét thấy đây là số tiền của anh Vương Đức M bị bị cáo H chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử trả lại cho anh Vương Đức M.
Đối với số tiền 3.538.000 đồng, bị cáo H giao nộp. Hội đồng xét xử xét thấy anh Vương Đức M yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 4.900.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt nhưng được trừ đi số tiền ông Dương Thành T tự nguyện giao nộp là 1.600.000 đồng, bà Võ Thị Thúy H1 tự nguyện giao nộp 2.200.000 đồng nên bị cáo H phải có trách nhiệm trả thêm 1.100.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo H đồng ý sử dụng số tiền 1.100.000 đồng trong số tiền giao nộp để trả lại cho anh M. Việc bị cáo H đồng ý bồi thường là hoàn toàn tự nguyện. Số tiền còn lại {3.538.000 đồng – 1.100.000 đồng = 2.438.000 đồng} là 2.438.000 đồng sẽ được trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H nhưng cần kê biên để đảm bảo cho việc thi hành án.
[6] Về án phí (hình sự + dân sự) sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 170; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ điểm khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H 03 (ba) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm, 01 áo sơ mi ngắn tay, 01 quần kaki ngắn.
Kê biên 01 chiếc điện thoại di động Samsung A05s, số Imel 1: 357533640109863 và số tiền 2.438.000 (hai triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H để đảm bảo việc thi hành án. Trường hợp bị cáo H đã thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí thì trả lại 01 chiếc điện thoại di động Samsung A05s, số Imel 1: 357533640109863 và số tiền 2.438.000 (hai triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn) đồng cho bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H.
Trả lại cho anh Vương Đức M số tiền 4.900.000 (bốn triệu chín trăm nghìn) đồng. {trong đó số tiền 1.100.000 đồng của bị cáo H giao nộp; số tiền 2.200.000 đồng do bà Võ Thị Thúy H1 tự nguyện giao nộp và số tiền 1.600.000 đồng ông Dương Thành T tự nguyện giao nộp}.
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Huỳnh Hương phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
