|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 53/2025/HS-PT Ngày 26-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
- Các Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải, Ông Hoàng Trí Thức
- - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLPT-HS ngày 14/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Mai L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HSST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị Mai L, sinh năm: 1978, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: thôn C, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T (Đã mất) và con bà Lê Thị S; bị cáo là con út trong gia đình có năm anh chị em; Chồng Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975 (đã ly hôn); Có 01 người con sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 20-02-2025 bị bắt tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
2. Lê Thị Thanh T1, sinh năm: 1963 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn E, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 04/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Lê Văn C (đã mất) và con bà Ngô Thị R (đã mất); Bị cáo là con út trong gia đình có bốn anh em; Chồng Cao Anh Đ, sinh năm 1962, có 02 người con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 20-02-2025 bị bắt tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
3. Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1969, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn G, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 04/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Nguyễn Văn B (đã mất) và con bà Mai Thị B1 (đã mất); bị cáo là con thứ hai trong gia đình có ba chị em; Chồng Võ Đông T2, sinh năm 1976, có ba người con, con lớn sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 20-02-2025 bị bắt tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 05 tháng 08 năm 2024, Công an xã L, thành phố V, phối hợp với Đồn Biên phòng L2 tiến hành kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Thị Mai L phát hiện L đang sử dụng điện thoại di động Iphone gắn số sim 0983.552.xxx để đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề với Lê Thị Thanh T1 thông qua số điện thoại 0365.263.xxx và Nguyễn Thị L1 thông qua số điện thoại 0867.042.xxx.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1 và Nguyễn Thị L1 khai nhận: Do cùng xã quen biết nhau từ trước nên vào đầu tháng 08/2024, cần tiền tiêu xài cá nhân nên L rủ T1 và L1 cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề. T1 và L1 đồng ý nên L chọn và gửi các con số lô, đề, hình thức chơi và số tiền chơi qua tin nhắn cho L1 và T1. Nếu T1 và L1 đồng ý chơi thì sẽ nhắn lại “Ok” cho L. Cách thức, tỷ lệ thắng thua là hàng ngày khi có kết quả xổ số kiến thiết của các đài B2, T3, N thì căn cứ vào số phơi đề nhận từ Liên từ đó T1 và L1 tính tiền thắng thua rồi nhắn tin cho L số tiền thắng thua và hẹn gặp, nhận tiền, cụ thể cách thức và tỷ lệ thắng thua như sau:
Đối với đài miền N, T3: Đánh “đầu - đuôi” tức là L mua số có hai chữ số và so sánh với giải tám và hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, có bao nhiêu số trùng thì cứ 1 số trùng là L thắng, T1, L1 phải trả cho con bạc gấp 70 lần số tiền cược con bạc đã mua (1 x 70 lần). Đánh “xỉu chủ” tức là L mua số có ba chữ số và so sánh với ba chữ số cuối cùng của giải đặc biệt và giải bảy của xổ số kiến thiết, có bao nhiêu số trùng thì cứ 1 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả cho L gấp 600 lần số tiền L đã mua (1 x 600 lần). Đánh “bao lô 2 số” tức là L mua số có hai chữ số và so sánh với hai chữ số cuối của tất cả các giải của xổ số kiến thiết, có bao nhiêu số trùng thì cứ 01 số trùng thì cứ 01 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả tiền cho Liên gấp 70 lần số tiền L đã mua (1 x 70 lần). Đánh “bao lô 3 số” tức là L mua số có ba chữ số và so sánh với các giải từ đặc biệt đến giải bảy của xổ số kiến thiết, có bao nhiêu số trùng thì cứ 01 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả tiền cho L gấp 600 lần số tiền L đã mua (1 x 600 lần).
Đối với đài miền B: Đánh “Đầu – Đuôi”: chọn hai con số cuối cùng của giải đặc biệt và 4 con số của giải 7 của xổ số kiến thiết, nếu có 1 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả cho Liên gấp 70 lần số tiền L đã mua (1 x 70 lần). Đánh “Bao lô 2 số”: chọn hai con số cuối cùng của tất cả 27 giải của xổ số kiến thiết, nếu có 1 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả cho Liên gấp 70 lần số tiền L đã mua (1 x 70 lần). Đánh “Bao lô 3 số”: chọn ba con số cuối cùng của tất cả 23 giải (trừ bốn giải 7 có 2 con số) của xổ số kiến thiết, nếu có 1 số trùng là L thắng và T1, L1 phải trả gấp 600 lần số tiền L đã mua (1 x 600 lần). Đánh“Xỉu chủ”: chọn ba con số cuối cùng của giải đặc biệt và ba con số của 03 giải 6 làm căn cứ xác định việc trúng thưởng, nếu có 01 số trùng thì L thắng và T1, L1 phải trả cho L gấp 600 lần số tiền L đã mua (1 x 600 lần).
Quá trình điều tra xác định số tiền L, T1, L1 đánh bạc bằng hình thức ghi lô, đề như sau:
Giữa L và T1:
- - Ngày 04-8-2024:
- + Đài miền N: Liên gửi cho T1 05 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng đánh bạc là 57.176.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 10.276.000 đồng, số tiền thắng là 46.900.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
- + Đài miền Bắc: Liên gửi cho T1 01 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng đánh bạc là 8.528.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 5.428.000 đồng, số tiền thắng là 3.100.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
- + Đài miền T: Liên gửi cho T1 03 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng để đánh bạc là 8.390.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 5.940.000 đồng, số tiền thắng là 2.450.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
- - Ngày 05-8-2024:
- + Đài miền N: Liên gửi cho T1 04 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng để đánh bạc là 14.830.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 9.580.000 đồng, số tiền thắng là 5.250.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
Giữa L và L1:
- - Ngày 04-8-2024:
- + Đài miền N: Liên gửi cho L1 07 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng để đánh bạc là 41.200.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 13.250.000 đồng, số tiền thắng là 27.950.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
- + Đài miền B: Liên gửi cho L1 03 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng để đánh bạc là 7.468.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 3.918.000 đồng, số tiền thắng là 3.550.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
- - Ngày 05-8-2024:
- + Đài miền N: Liên gửi cho L1 02 tin nhắn đánh bạc dưới nhiều hình thức chơi khác nhau với tổng số tiền L sử dụng đánh bạc là 12.804.000 đồng trong đó số tiền sử dụng để mua đề là 6.504.000 đồng, số tiền thắng là 6.300.000 đồng (cụ thể có bảng thống kê kèm theo hồ sơ)
Như vậy, tổng số tiền L, T1 và L1 đánh bạc trong 02 ngày (ngày 04 và ngày 05 tháng 8 năm 2024) là:
- + Ngày 04-8-2024: Số tiền L đánh bạc đài miền N là 98.376.000 đồng, đài miền B là 15.996.000 đồng, đài T3 là 8.390.000 đồng; Số tiền T1 đánh bạc đài miền N là 57.176.000 đồng, đài miền B là 8.528.000 đồng, đài T3 là 8.390.000 đồng; Số tiền Lệ đánh bạc đài miền N là 41.200.000 đồng, đài miền B là 7.468.000 đồng.
- + Ngày 05/8/2024: số tiền L đánh bạc đài N là 27.634.000 đồng. Số tiền T1 đánh bạc đài N là 14.830.000 đồng. Số tiền Lệ đánh bạc đài N là 12.804.000 đồng.
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị L1 đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên (Bút lục điều tra từ số C, 94-103 và 69-88).
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:
Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng, tài sản gồm:
- - 01 (một) điện thoại iPhone 12 Pro Max màu vàng, số IMEI: 354245335293059 gắn sim số 0983552259 của L.
Riêng 02 điện thoại của L1 và T1, sau khi bị phát hiện L1 và T1 sợ đã vứt bỏ điện thoại và sim trên đường không thu hồi được.
Vật chứng trên được Cơ quan CSĐT Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
2.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mai L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày 20-02-2025.
2.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thanh T1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày 20-02-2025.
2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 20-02-2025.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 10/3/2025, các bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; tại phiên toà bị cáo L1 xin được hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Mai L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù và Lê Thị Thanh T1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị L1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới đủ căn cứ để được giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị L1 làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Trong 02 ngày 04 và 05 tháng 8 năm 2024, tại xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị L1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề nhiều lần, cụ thể: Ngày 04-8-2024, số tiền L đánh bạc đài miền N là 98.376.000 đồng, đài miền B là 15.996.000 đồng, đài T3 là 8.390.000 đồng. Số tiền T1 đánh bạc đài miền N là 57.176.000 đồng, đài miền B là 8.528.000 đồng, đài T3 là 8.390.000 đồng. Số tiền Lệ đánh bạc đài miền N là 41.200.000 đồng, đài miền B là 7.468.000 đồng; Ngày 05-8-2024, số tiền L đánh bạc đài N là 27.634.000 đồng. Số tiền T1 đánh bạc đài N là 14.830.000 đồng. Số tiền Lệ đánh bạc đài N là 12.804.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Thị L1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn và nếp sống văn minh của xã hội tại địa phương. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mai L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù và Lê Thị Thanh T1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị L1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Mai L cung cấp thêm đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, 3 giấy ghi nhận Tấm lòng vàng của Ban Thường trực Ủy ban M các năm 2022, 2023, 2024; bằng khen của ông ngoại bị cáo là Lê Văn C1 đã có công góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; các bị cáo Lê Thị Thanh T1 và Nguyễn Thị L1 cung cấp thêm đơn xác nhận là lao động chính và hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết mới phát sinh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm; do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thị Mai L; đối với bị cáo T1 đã được xử ở mức thấp nhất của khung hình phạt là 03 năm nên không có căn cứ giảm nhẹ dưới khung hình phạt; đối với bị cáo Nguyễn Thị L1 phạm tội ít nghiêm trọng, là lao động chính, bản thân có nhiều bệnh, bị bắt tạm giam tính đến nay đã hơn 03 tháng đã đủ sức răn đe bị cáo nên chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Lệ .
Như vậy Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo L và bị cáo L1; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo L, bị cáo L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thanh T1; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đối với bị cáo Lê Thị Thanh T1.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; các điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Nguyễn Thị L1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị L1 phạm tội “Đánh bạc”;
1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mai L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20-02-2025.
1.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thanh T1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20-02-2025.
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Lệ 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thị L1 tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
- - Bị cáo Lê Thị Thanh T1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- - Các bị cáo Nguyễn Thị Mai L, Nguyễn Thị L1 không phải nộp.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 53/2025/HS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 53/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mai L và đồng phạm
