| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2025/HS-PT Ngày 22 tháng 5 năm 2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Sỹ và bà Bùi Thị Đoan Trang
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Kim Tuyến, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 7 năm 2001; nơi sinh: Thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; có vợ Nguyễn Hương L, sinh năm 2004, con Nguyễn Thiên A, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, “có mặt”.
Ngoài ra, trong vụ án còn các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2024, Tạ Tú H2; Lê Thị Khánh D; Nguyễn Ánh H3; Lương Thị Thanh T1, đều trú tại xã T, Y, Bắc Giang; Phạm Ngọc H4; Nguyễn Hoàng Gia B; Nông Văn M; Lương Duy Q; Lương Công H5; Hoàng Minh H6; Nông Quốc H7; Nguyễn Ngọc H8; Lăng Tuấn K; Bùi Văn H9, đều trú tại xã C, Y, Bắc Giang; Lục Văn Đ trú tại xã A, Y, Bắc Giang; Triệu Thị C1 và Bàn Thị B1, đều trú tại xã H, Đ, Thái Nguyên, cùng nhau tổ chức ăn uống tại nhà Tạ Tú H2, sau đó H2 rủ thì được tất cả mọi người đồng ý đi chơi tại huyện T, Vĩnh Phúc.
Nhóm của Tạ Tú H2 có 17 người đi 7 xe máy, cụ thể:
- Tạ Tú H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110, màu trắng biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 47P1-201.52 chở theo Lê Thị Khánh D (D cầm theo 01 con dao mèo, dài khoảng 50cm, lưỡi kim loại sắc, đầu dao nhọn, chuôi gỗ màu vàng, được đựng trong 01 vỏ bao đựng dao bằng gỗ màu vàng, có các vòng nẹp bằng kim loại màu trắng lấy ở nhà H2);
- Lương Công H5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110, màu đen BKS 98B3 - 681.30, chở theo Hoàng Minh H6 (H6 cầm 01 con dao dài 46,5cm, lưỡi kim loại, chuôi gỗ màu đỏ);
- Nông Quốc H7 điều khiển xe mô tô wave 110, màu xanh của H8 chở theo Nguyễn Ngọc H8 (H8 cầm 01 con dao chặt, dài 35,5cm, lưỡi kim loại, chuôi gỗ).
- Bùi Văn H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 20B1-841.46 chở theo Nguyễn Hoàng Gia B (B cầm 01 con dao quắm dài 68cm, lưỡi kim loại, đầu mũi dao nhọn, cong xuống dưới, chuôi gỗ) và Triệu Thị C1 SN 2008;
- Phạm Ngọc H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu xanh, BKS 29L5-030.99 chở theo Nguyễn Ánh H3 và Lương Thị Thanh T1;
- Bàn Thị B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không gắn BKS chở theo Nông Văn M và Lục Văn Đ; (M cầm 01 con dạo gọt hoa quả bằng kim loại do H4 lấy ở nhà H2 đưa cho M);
- Lương Duy Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Cup, màu trắng BKS 98AL-007.99 chở theo Lăng Tuấn K;
Khi nhóm của Tạ Tú H2 đi đến khu vực cầu C thuộc huyện T, Bắc Giang thì K đổi sang điều khiển xe mô tô của H4 chở theo H3 và T1, còn H4 thì sang ngồi sau xe mô tô do Q điều khiển, Đoàn thì đổi sang lái xe mô tô chở B1, M ngồi sau. D đưa con dao mèo và vỏ đựng dao cho H8 cầm. Sau đó, H2 gọi messenger từ tài khoản Facebook “Hoàn Bé” của H2 đến tài khoản có tên “Sa Cơ” của Nguyễn Đình T2 để rủ T2 đi T chơi và hẹn gặp nhau ở cây xăng H14 ở huyện H, tỉnh Bắc Giang thì T2 đồng ý.
Lúc này, T2 đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Mạnh K1 tại thị trấn C, T, Bắc Giang, T2 rủ K1 đi T, Vĩnh Phúc chơi thì K1 đồng ý. T2 sử dụng messenger gọi cho tài khoản Facebook tên “Nguyễn Văn H” của Nguyễn Văn H rủ H đi chơi cùng và hẹn gặp ở cây xăng xã S, T, Bắc Giang thì H đồng ý.
Tiếp đó Nguyễn Đình T2 sử dụng tài khoản Facebook “Sa Cơ” của T2 đăng lên nội dung “ai đi T không” thì có Phạm Trường G nhắn tin cho T2 “có đi”, và T2 hẹn gặp G ở cây xăng S thuộc huyện T, Bắc Giang. Cùng lúc đó, T2 sử dụng Facebook của mình gọi cho tài khoản “Nguyen Tien Hai” của anh Nguyễn Tiến H10 để hỏi mượn xe của H10 đi T, Vĩnh Phúc chơi thì H10 đồng ý.
Sau đó, T2 và K1 đến nhà H10 và được H10 cho mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh tím than, BKS 98H1-380.35. K1 điều khiển xe mô tô chở T2 đến điểm hẹn gặp G và H. Tại đây, T2, K1 gặp H điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 98B2 – 635.58 chở Phạm Hồng L1 đến và G đang đứng đợi ở đó. Thiện tháo BKS của xe vừa mượn được của H10 cho vào cốp xe, H dùng khẩu trang bịt BKS xe của H.
Nhóm của T2 đi T gồm 05 người đi 2 xe máy, cụ thể:
- Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 98B2 – 635.58 (đã che BKS) chở Phạm Hồng L1;
- Nguyễn Mạnh K1 điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh tím than, BKS 98H1-380.35 (đã tháo BKS) chở Phạm Trường G, Nguyễn Đình T2.
Khi đi đến cây xăng H14 ở H, Bắc Giang, do không thấy H2 nên T2 đã gọi điện cho H2, thì H2 nói đang xảy ra mâu thuẫn với một nhóm thanh niên ở thị trấn T, H, Bắc Giang. Cả nhóm T2 tiếp tục di chuyển đến thị trấn T, H, Bắc Giang để gặp H2.
Khi đến thị trấn T thì gặp nhóm của H2, tất cả nhóm H2 và nhóm T2 cùng nhau di chuyển đi lên T, Vĩnh Phúc chơi.
Quá trình di chuyển, H8 đưa dao mèo và vỏ bao đựng dao cho T2 cầm. T1 sang xe H2 ngồi, Đ sang xe Kiệt ngồi còn M thì lên lái xe chở B1. Trên đường đi thì xe của H5 chở Hoàng Minh H6 bị lạc khỏi nhóm, không đi cùng nhóm của H2 và T2, M đã vứt con dao gọt hoa quả mà H4 đưa vào một gốc cây ven đường.
Lúc này, nhóm của H2 và nhóm của T2 nhập thành 01 nhóm (tạm gọi là Nhóm Bắc Giang) cùng đến thành phố P, Vĩnh Phúc gồm 20 người đi 08 xe máy, trong đó: nhóm của H2 có 15 người đi trên 06 xe máy; nhóm của T2 có 05 người đi trên 02 xe máy, cụ thể:
- Tạ Tú H2 điều khiển điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110, màu trắng, BKS 47P1-201.52 chở theo Lê Thị Khánh D và Lương Thị Thanh T1;
- Lăng Tuấn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xanh, BKS 29L5-030.99 chở theo Nguyễn Ánh H3 và Lục Văn Đ;
- Nông Văn M điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không gắn BKS theo Bàn Thị B1;
- Lương Duy Q điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Cup, màu trắng, BKS: 98AL-007.99 chở theo Phạm Ngọc H4;
- Nông Quốc H7 điều khiển xe mô tô wave màu xanh của H8 chở theo Nguyễn Ngọc H8 (H8 cầm 01 con dao chặt);
- Bùi Văn H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 20B1 - 841.46 chở theo Nguyễn Hoàng Gia B (B cầm 01 con dao quắm) và Triệu Thị C1;
- K1 chở G, T2 (T2 cầm 01 con dao mèo);
- L1 chở Nguyễn Văn H;
Đến khoảng gần 23 giờ cùng ngày, thì cả N2 đi đến khu vực cây xăng thuộc tổ dân phố X, P, P, thì dừng nghỉ để cho Q, H7, K1 và Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô vào đổ xăng. Tại đây, B vứt con dao quắm xuống dưới đất ở khu vực trước cây xăng gần vị trí của T2, K1 đang đứng. Cả nhóm đứng gần cây xăng đợi. T1 và D vẫn ngồi trên xe mô tô của H2.
Khoảng 22 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2024, Nguyễn Văn T3, Phùng Quang H11, Nguyễn Quang H12, Nguyễn Hoàng N, Thái Đặng K2, Dương Chấn T4, Dương Minh T5, Đỗ Thành T6, đều trú tại xã C, P và Nguyễn Việt A1, trú tại phường X, P cùng nhau ngồi chơi ở cổng làng Đ, Cao M1, P thì cùng rủ nhau đi dạo quanh thành phố P, thì tất cả đồng ý. Nhóm này gồm 09 người đi 05 xe máy (tạm gọi là Nhóm P), cụ thể:
- Nguyễn Việt A1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 88H1-251.20, màu xanh chở theo Dương Minh T5 (T5 cầm 01 khúc chuôi gậy bi-a và 01 khúc nối gậy bi-a, đều được làm bằng gỗ);
- Nguyễn Hoàng N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ, BKS 88K3-6744 chở theo Đỗ Thành T6;
- Nguyễn Quang H12 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc của Nguyễn Văn T3 (T3 đã tháo BKS 88H1- 367.03 cho vào cốp xe) chở theo Nguyễn Văn T3;
- Phùng Quang H11 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS 88H1-391.95;
- Thái Đặng K2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS 88G1-514.12 chở theo Dương Chấn T4.
Nhóm Phúc Y đi dạo chơi thì xe của K2 chở Dương Chấn T4 bị lạc khỏi nhóm. Lúc này, nhóm Phúc Y còn lại di chuyển ra đường N, đi ra cây xăng gần cửa hàng xe máy Nhung H13, thuộc tổ dân phố X, Phúc T7, P, để đổ xăng còn 07 người đi 04 xe máy. Khi đi qua ngõ gần trường THCS P thì T5 vứt 02 khúc gậy bi –a cầm theo, sau đó cả nhóm ra cây xăng. Tại đây, H11, H12 và Nguyễn Văn T3 đứng ở ngõ gần cây xăng đợi, còn Việt A1, T5, N và T6 vào đổ xăng.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày 14 tháng 2 năm 2024, khi đang đổ xăng thì nhóm P gặp một nhóm thanh niên khác (không phải nhóm Bắc Giang) gồm 02 xe vào đổ xăng trước rồi đi ra và đi theo hướng Quốc lộ B về Hà Nội, thì H11 bảo với cả nhóm là nhóm thanh niên vừa vào đổ xăng hình như có cầm theo kiếm, thì T5 bảo đuổi theo để đánh nên T5 và T6 mỗi người rút 01 cán treo cờ bằng tre, dài khoảng 03m ở khu vực cây xăng, cùng lúc này xe của K2 chở Dương Chấn T4 cũng đi đến. Lúc này cả nhóm P, gồm 09 người đi 5 xe máy cùng nhau đi ra QL2A hướng đi huyện S, Hà Nội. Cả nhóm cùng đuổi để đánh nhóm thanh niên nêu trên đến đoạn đường qua cầu X đoạn thì nhóm P không đuổi nữa quay lại, riêng xe của N chở T6 vẫn đi thẳng hướng S sau đó về nhà.
Lúc này, nhóm Phúc Y quay lại gồm 07 người đi 4 xe máy gồm: H12 chở Văn T3, K2 chở Chấn T4, Việt A1 chở T5, còn H11 đi 1 mình, khi đi đến khu vực cây xăng thuộc X, P, P, thì nhìn thấy nhóm Bắc Giang. Lúc này T5 bảo Việt A1 điều khiển xe mô tô áp sát nhóm Bắc Giang đang đứng, rồi T5 cầm cán cờ bằng tre vụt vào mũ bảo hiểm của T1 đang đội trên đầu, làm mũ bảo hiểm của T1 bị vỡ, cán cờ bằng tre bị gãy một đoạn, đoạn tre bị gãy bắn vào đầu của D, rồi nhóm Phúc Y bỏ chạy về hướng Ủy ban nhân dân phường P, xe H12 điều khiển chở Văn T3 chạy sau cùng.
Thấy vậy, T2 bảo với nhóm của mình đuổi theo và nhặt con dao quắm do B vứt ở gần vị trí của mình đang đứng đưa cho G, rồi K1 điều khiển xe mô tô chở theo G và T2 cùng với một số người khác trong nhóm Bắc Giang đuổi theo nhóm P1 (lúc này có 9 người gồm: Q, H4, H7, H8, D, T1, C1, H13, B1 đứng ở cây xăng không đuổi theo). Lúc này, nhóm Bắc Giang còn lại 11 người đi 06 xe máy đuổi theo nhóm của P, cụ thể:
- K1 điều khiển xe chở G, T2 (T2 cầm 01 con dao mèo, G cầm 01 con dao quắm);
- Mạnh 1 mình điều khiển xe đuổi theo;
- Bùi Văn H9 chở theo Nguyễn Hoàng Gia B;
- H2 điều khiển xe đi một mình;
- K chở theo Đ;
- Nguyễn Văn H chở L1 đổ xăng xong đi chậm đi sau cùng;
Khi nhóm Phúc Y bỏ chạy, T5 đã vứt đoạn cán tre treo cờ còn lại vào khu vực dưới chân cầu vượt dành cho người đi bộ, cả nhóm điều khiển xe bỏ chạy rẽ vào ngõ đi Trường THCS P, để đi tắt về phường X, P. Xe của Việt A1 chở Minh T5, xe của K2 chở Chấn T4 và xe của H11 bị xe của K chở Đ đuổi theo nhưng không kịp nên K đã chở Đ đi về khu vực cây xăng thuộc Tổ dân phố X, P, P, còn nhóm Phúc Y gồm xe của Việt A1 chở Minh T5, xe của K2 chở Chấn T4 và xe của H11 không thấy bị đuổi nữa nên đã đi về nhà ngủ.
Xe của H12 chở Văn T3 khi bỏ chạy (đi sau cùng) đến khu vực trước cổng Trường THCS P thì bị xe của Nguyễn Mạnh K1 chở Phạm Trường G, Nguyễn Đình T2 và xe của Bùi Văn H9 chở B đuổi kịp.
Nguyễn Mạnh K1 điều khiển xe mô tô ép xe mô tô của H12 và Văn T3 vào sát vỉa hè, Phạm Trường G và Nguyễn Đình T2 ngồi sau cùng vung dao chém về phía anh H12 và T3 nhưng không trúng người mà trúng vào yên xe rách yên xe một đoạn, làm xe mô tô do H12 điều khiển chở T3 đổ ngã vào vỉa hè, H12 bị ngã sây sát phần mềm đầu gối phải, mu bàn chân phải, sưng đau khớp cổ tay phải, T3 bị ngã bị sây sát phần mềm đầu gối phải, H12 và T3 bỏ lại xe mô tô chạy theo hướng ra Quốc lộ B. Thấy vậy, T2 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của này đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên T2 bảo K1 dừng xe lại, nhưng T2 không nói cho K1 và G biết ý định bảo K1 dừng xe để T2 xuống chiếm đoạt chiếc xe mô tô này (xe của anh T3). Khi K1 giảm tốc độ thì T2 cầm dao mèo nhảy ra khỏi xe để chiếm đoạt xe mô tô của anh T3, còn K1 không biết T2 nhảy xuống mục đích cướp xe vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô chở G đuổi theo anh T3 để đánh. Lúc này B cũng nhảy ra khỏi xe của Bùi Văn H9 để đuổi đánh anh H12 và anh T3, Bùi Văn H9 và M vẫn tiếp tục điều khiển xe đuổi theo anh H12.
Khi anh Nguyễn Quang H12 và Nguyễn Văn T3 bỏ chạy, để lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc trên vỉa hè, (xe đã tháo BKS 88H1-367.03 để trong cốp xe), Nguyễn Đình T2 đã chiếm đoạt xe mô tô này, đưa cho B cầm 01 con dao mèo, rồi T2 điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được của anh T3 chở B đi về cây xăng thuộc Tổ dân phố X, P, P.
K1 điều khiển xe chở G đuổi theo anh Nguyễn Văn T3 đến cổng Ủy ban nhân dân phường P thì nhìn thấy anh T3 đang chạy bộ tự ngã xuống đường, nên K1 và G dừng lại không đánh anh T3 nữa mà quay xe đi về cây xăng thuộc tổ dân phố X, P, P.
Anh H12 bỏ chạy đến trước cửa hàng X1, thuộc tổ dân phố X, P, P thì bị xe của H2, xe của Bùi Văn H9 và xe của M đuổi kịp và chặn lại. Bùi Văn H9 dùng tay, chân đấm đá anh H12, sau đó cùng H2 và M quay lại cây xăng thuộc tổ dân phố X, P, P.
Khi T2 chở B về đến khu vực gần Phòng Kinh doanh Công ty cổ phần V1 (gần cây xăng) thuộc thuộc tổ dân phố X, P, P thì dừng xe tại đó, cùng lúc này xe của K1 chở G cũng đến và dừng xe gần xe của T2 (thời điểm này, tại đây mới chỉ có mặt T2, B, K1 và G có mặt tại đó). K1 và G nhận ra chiếc xe T2 và B đang ngồi chính là chiếc xe của anh H12 vừa chở anh T3 trước đó. Lúc này, T2 mở cốp của chiếc xe mô tô Thiện vừa cướp được dưới sự chứng kiến của K1, G bà B thì thấy bên trong cốp xe có 01 chiếc BKS 88H1 - 367.03 + 01 ví giả da màu nâu, trong ví không có giấy tờ và tài sản gì nên T2 vứt bỏ chiếc ví da lên mái nhà của Phòng Kinh doanh - Công ty Cổ phần V2. Tại đây T2 nói cho K1, G và B biết việc sau khi H12 và T3 bị ngã để lại xe bỏ chạy, T2 đã chiếm đoạt chiếc xe này của T3. B đưa lại con dao mèo cho T2 và đi sang xe mô tô khác để ngồi.
Ngay sau đó, thì nhóm bạn còn lại của T2 (nhóm tham gia đuổi theo nhóm P) cũng lần lượt quay về cây xăng. Tất cả nhóm Bắc Giang tiếp tục di chuyển đi T. Gồm 20 người đi 09 xe máy. Vị trí các xe còn lại giữ nguyên, riêng K1 sang điều khiển chiếc xe mô tô mà T2 vừa cướp được chở T2 ngồi sau; L1 sang xe Khoa vừa điều khiển chở G; Nguyễn Văn H đi một mình, cùng cả nhóm đi lên huyện T, Vĩnh Phúc chơi.
Khi mới đi được khoảng 02 km (tại địa phận thuộc địa phận thành phố P), K1 dừng xe lại và bảo T2 đưa dao mèo để K1 chặt bỏ chắn bùn phía sau chiếc xe Thiện vừa cướp được, tránh sự phát hiện của nhóm Phúc Y và của Công an. Khi K1 đang chặt bỏ chắn bùn phía sau xe thì xe của L1 và G đi đến, Lưu N1 thấy K1 chặt chắn bùn sau, lúc này G nói cho L1 biết chiếc xe mô tô K1 đang chặt chắn bùn là xe của nhóm Phúc Y bỏ lại khi bỏ chạy, T2 đã lấy chiếc xe đó. Chặt chắn bùn xong, K1 đưa lại dao cho T2 cầm rồi tiếp tục điều khiển xe đi T, Vĩnh Phúc chơi cùng đồng bọn. Trên đường đi, T2 đã vứt chiếc BKS 88H1 – 367.03 ở ven đường (không nhớ được vị trí cụ thể).
Khi đến T cả nhóm gặp lại H5 và Minh H6 tự di chuyển đến đó. Trong thời gian ở T, do nhóm đông người, không quen biết nhau từ trước nên không có ai để ý việc T2 có đi thêm 01 xe mô tô nữa, không ai hỏi và nói chuyện về chiếc xe này; T2, B, K1, G, L1 cũng không nhắc gì đến chiếc xe mô tô T2 vừa cướp được của nhóm P nên những người còn lại trong nhóm đều không biết việc T2 cướp xe mô tô của anh T3.
Đến khoảng 02 giờ ngày 15 tháng 02 năm 2024, cả nhóm cùng nhau đi về Bắc Giang, T2 gài con dao mèo và vỏ bao đựng dao vào chỗ để chân phía sau của chiếc xe mô tô vừa cướp được, G thì đưa lại con dao quắm cho B cầm. Khi về đến huyện H, Bắc Giang thì nhóm của H2 tách ra để đi về nhà mình. Còn lại 05 người đi 03 xe máy gồm: Khoa, T2, L1, G, Nguyễn Văn H, cùng nhau đi về huyện T, Bắc Giang. Khi đi đến thôn Q, xã N, T, Bắc Giang thì K1, T2, L1, G, Nguyễn Văn H dừng lại nghỉ ở ven đường. Tại đây, T2 kiểm tra chỗ để chân sau của xe mô tô thì không thấy con dao mèo và vỏ bao đựng dao đâu, cùng lúc này T2 kể cho K1, L1, G, Nguyễn Văn H nghe nội dung vụ việc T2 đuổi đánh nhóm Phúc Y (có dùng dao chém nhưng không trúng người chỉ chém trúng yên xe), làm xe của H12 chở T3 bị ngã, để lại xe moto bỏ chạy nên T2 đã chiếm đoạt xe mô tô của anh T3 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó T2 nói với mọi người “Xe này cướp được là của tao”, G, K1, L1, Nguyễn Văn H không có ý kiến gì. Sau đó, L1 sang xe Nguyễn Văn H điều khiển đi về nhà, G cũng điều khiển xe mô tô đi về nhà sau đó trả xe cho anh H10. K1 điều khiển chiếc xe mô tô T2 vừa cướp được đưa T2 về nhà của T2, rồi K1 một mình điều khiển chiếc xe Thiện cướp được về nhà của mình ngủ.
Đến khoảng 9 giờ ngày 15 tháng 02 năm 2024, T2 mượn 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Iphone 7S, màu trắng của bà Nguyễn Thị C2, trú tại xã N, T, Bắc Giang (là mẹ đẻ của T2) đăng nhập vào tài khoản Messenger có tên là: “Sa Cơ” gọi điện đến tài khoản M2 có tên là: “Quang Nôbi” của Trịnh Thế Q1, trú tại xã Đ, L, Bắc Giang để gạ bán chiếc xe mô tô nêu trên. Khi Q1 hỏi nguồn gốc xe, T2 trả lời Q1 là xe vừa cướp được trên tỉnh Vĩnh Phúc. Q1 bảo T2 cứ mang xe qua Q1 xem nếu được giá thì mua. T2 với Q1 hẹn nhau đến 19 giờ 30 phút cùng ngày sẽ gặp nhau tại khu vực T, thuộc phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để mua bán xe mô tô.
Đến khoảng 12 giờ ngày 15 tháng 02 năm 2024, sau khi được Q1 đồng ý hẹn xem xe, T2 gọi điện cho K1 để lấy xe và rủ K1 đi cùng để bán xe thì K1 đồng ý. Khoảng 15 phút sau, K1 điều khiển xe mô tô T2 cướp được đến nhà T2 và chơi ở đó đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô cướp được chở K1 về nhà K1 lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 98B3 231.10, sau đó K1 và T2 mỗi người điều khiển 1 xe mô tô đến chỗ hẹn để gặp Q1. Khi đi gần đến khu vực Thành Xương G1 thì T2 bảo K1 đứng đợi ở đó, rồi một mình đi đến chỗ hẹn gặp Q1.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15 tháng 02 năm 2024, Q1 rủ Nguyễn Văn M3 ở Đồi N, L, Bắc Giang (là bạn cùng phòng trọ) đi cùng Q1 ra khu vực Thành Xương G1 có việc, M3 đồng ý. Q1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH, màu đen, BKS 20B1 – 832.82 chở M3 ngồi phía sau đến khu vực Thành Xương G1. Khi đến nơi, Q1 bảo M3 điều khiển xe của Q1 đi về phòng trọ, để Q1 đi có việc thì M3 đồng ý, điều khiển xe của Q1 về phòng trọ ngủ. Khi đến điểm hẹn, Q1 thấy T2 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, không gắn BKS. Sau khi xem xe, thấy xe bị mất chắn bùn phía sau và rách 1 đoạn ở yên xe, Q1 hỏi lại về nguồn gốc chiếc xe thì T2 nói chiếc xe này là do T2 cướp được ngày 14 tháng 02 năm 2024 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Lúc này, Q1 biết rõ chiếc xe mô tô là do T2 cướp được mà có, nhưng do hám lợi nên Q1 vẫn đồng ý mua chiếc xe này và trả cho T2 5.300.000 đồng và yêu cầu T2 xóa hết tin nhắn giao dịch thỏa thuận mua bán xe tránh việc bị phát hiện, T2 đồng ý và đã xóa tin nhắn. Số tiền 5.300.000 đồng này T2 đã một mình tiêu xài hết không cho K1 đồng nào.
Mua được xe, Q1 đi về phòng trọ, thì nhớ ra có anh Nguyễn Tiến V trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh trước đó có hỏi mua loại xe Wave. Q1 nhắn tin trao đổi, thỏa thuận bán chiếc xe trên cho V với giá 8.000.000 đồng. V hỏi nguồn gốc xe thì Q1 nói xe do khách cầm cố nhưng bỏ không lấy nữa, thì V không hỏi gì thêm. V chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản số 28220079999 thuộc ngân hàng Q2 của V đến tài khoản số 3353335678888 thuộc N3 của Q1 để đặt cọc, khi lấy xe trả nốt 6.000.000 đồng.
Khoảng 09 giờ ngày 16 tháng 02 năm 2024, khi V xem xe mô tô, V hỏi về phần chắn bùn phía sau của xe, Q1 nói là xe bị tai nạn nên chắn bùn sau bị gãy, V tiếp tục hỏi về giấy tờ xe và biển số, thì Q1 nói dối V là chiếc xe này do người khác cắm cho mình, nhưng quá hạn không lấy nên Q1 bán và hẹn V mấy hôm sau sẽ trả đầy đủ giấy tờ và biển số xe. Tin là thật nên V đồng ý mua xe, rồi trả tiền mặt cho Q1 số tiền 5.050.000 đồng, chuyển khoản số tiền 950.000 đồng trả Q1. Số tiền 8.000.000 đồng bán xe Q1 đã tiêu xài hết.
Sau khi mua được chiếc xe mô tô nêu trên, V đã thay chắn bùn phía sau xe để sử dụng. Bản thân V không biết chiếc xe này là tài sản do phạm tội mà có.
Khoảng 02 giờ ngày 15 tháng 02 năm 2024, anh H12 và anh T3 đến Công an phường P, P tố giác tội phạm.
Với nội dung vụ án như trên tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định đối với bị cáo Nguyễn Văn H:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Không tố giác tội phạm”;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác và xử lý vật chứng, buộc án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 07 tháng 10 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo. Bị cáo trình bày do thiếu hiểu biết pháp luật và nhận thức pháp luật hạn chế nên bị cáo đã không tố giác tội phạm. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ già và con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, vai trò tham gia thực hiện tội phạm của bị cáo Nguyễn Văn H đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo H hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H làm trong thời hạn luật định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt. Lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2024, tại khu vực cây xăng thuộc X, P, P, Nguyễn Mạnh K1 có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh, không gắn BKS chở Phạm Trường G và Nguyễn Đình T2, đuổi theo Nguyễn Quang H12 điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn xanh bạc (BKS 88H1-367.03 để trong cốp xe) chở Nguyễn Văn T3 để đánh, chém anh H12 và anh T3. Khi đuổi đến khu vực cổng trường THCS P, K1 điều khiển xe mô tô áp sát vào xe mô tô do H12 điều khiển. Nguyễn Đình T2, Phạm Trường G có hành vi dùng dao chém về phía anh T3 và anh H12 nhưng không trúng người, mà G chém trúng vào yên xe mô tô làm rách yên, làm anh H12 mất lái bị ngã đổ xe, anh H12 và T3 bị ngã ra đường bị thương nhẹ. Khi thấy anh T3 và H12 sợ hãi bỏ chạy, T2 đã chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh T3 (xe đăng ký BKS 88H1-367.03) và 01 ví giả da màu nâu, có tổng trị giá 11.150.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô nêu trên, T2 đã nói cho Phạm Trường G, Nguyễn Mạnh K1, Nguyễn Hoàng Gia B biết việc T2 đã chiếm đoạt được chiếc xe mô tô nêu trên của anh T3, nên trên đường đi T, Nguyễn Mạnh K1 đã chủ động dừng xe, sau đó K1 dùng dao mèo chặt bỏ chắn bùn phía sau chiếc xe mô tô mà T2 vừa chiếm đoạt được, với mục đích nhằm che giấu hành vi phạm tội Cướp tài sản của Nguyễn Đình T2.
Ngày 15 tháng 02 năm 2024 tại tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Đình T2 lại tiếp tục kể lại cho Nguyễn Mạnh K1, Nguyễn Văn H và Phạm Trường G biết việc sau khi H12 và T3 bị ngã, đã bỏ lại xe chạy thì T2 đã chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh T3. Mặc dù có đủ điều kiện, khả năng tố giác tội phạm, nhưng Nguyễn Văn H không tố giác hành vi Cướp tài sản của Nguyễn Đình T2 đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
[3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa cùng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, không oan sai.
[4] Xét đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy bị cáo H là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo do nhận thức pháp luật hạn chế nên khi nghe Nguyễn Đình T2 kể cho bị cáo biết việc T2 đã chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh T3, bị cáo không tố giác hành vi vi phạm của Nguyễn Đình T2 đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo rất ân hận và thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày và nộp đơn có xác nhận địa phương, thể hiện gia đình bị cáo nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bị cáo lần đầu bị xử lý trước pháp luật, bị cáo mới cưới vợ và có 01 con mới sinh. Gia đình hoàn cảnh neo đơn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện bị cáo phải chăm sóc mẹ già và nuôi con nhỏ mới sinh 2024. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và hiện là lao động chính trong gia đình và con nhỏ mới sinh. Bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2025/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo H hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Điều này cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện chăm sóc mẹ già, con nhỏ.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2025/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Không tố giác tội phạm”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 53/2025/HS-PT ngày 22/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (không tố giác tội phạm)
- Số bản án: 53/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Không tố giác tội phạm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không tố giác tội phạm
