Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 53/2025/HS-PT

Ngày 26-12-2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phùng Chí Thiện

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thu Hà- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thị Lan Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Lào Cai.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thế Y sinh ngày 15 tháng 3 năm 1965 tại huyện G, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); nơi cư trú: Tổ A, phường L, tỉnh Lào Cai); nơi ở: Thôn S, phường L, tỉnh Lào Cai; Số CCCD: 036065015672; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV P1; trình độ học vấn: Lớp 10/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Cao Thị Đ; vợ là Lâm Thị N1 và có 04 người con (Con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến ngày 01/7/2025; hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Bùi Việt T sinh ngày 28 tháng 7 năm 1968 tại tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay là phường L, tỉnh Lào Cai); nơi ở: Số nhà D, đường N, tổ A phường L, thành phố L (nay là phường L, tỉnh Lào Cai); Số CCCD: 010068004334; nghề nghiệp: Công chức Chi cục Hải quan khu vực V2 (Là Đảng viên Đ1, đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 02-QĐ/UBKTĐU ngày 12-6-2025 của Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ UBND tỉnh L); trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ông Bùi Viết T2 và bà Phùng Thị C; vợ là Lâm Thị H và có 02 người con, (Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến ngày 11/7/2025; hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Đỗ Văn N sinh ngày 26 tháng 7 năm 1990 tại tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã X, tỉnh Lào Cai); Số CCCD: 010090004494; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T3 và bà Mai Thị V; vợ là Lâm Thị Thu H1 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày từ ngày 04/6/2025 đến ngày 15/7/2025; hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Ủy ban nhân dân tỉnh L. Đại diện theo uỷ quyền: ông Bùi Quốc T4- Trưởng ban Q1; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn P không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh L có Quyết định 959/QĐ-UBND ngày 10/4/2014, thanh lý 236,9ha rừng tự nhiên nghèo kiệt cho Công ty TNHH MTV P1 (Công ty P1), do Nguyễn Thế Y là Giám đốc để chuyển sang trồng thử nghiệm cây Cao su, vị trí gồm: 22 lô, 03 khoảnh (1,2,3), tiểu khu A, xã V, thành phố L; Tổng diện tích 236,9ha theo giấy chứng nhận đầu tư số 12121000401 do UBND tỉnh L cấp ngày 04/11/2013. Ngày 28/4/2014, Ủy ban nhân dân thành phố L bàn giao diện tích rừng thanh lý cho Công ty P1.

Ngày 04/8/2014, Bộ N4 có văn bản thông báo số 6149/TB-BNN-VP, chỉ đạo không trồng mới cây cao su tại vùng núi Đ, trong đó có tỉnh Lào Cai nên dự án đã bị tạm dừng. Sau đó, UBND tỉnh L đã có Văn bản số 2547/UBND-NLN ngày 18/6/2015, về việc điều chỉnh dự án trồng thí điểm cây Cao su của Công ty P1 sang trồng rừng sản xuất. Đến ngày 14/9/2015, Sở Nông nghiệp và và phát triển nông thôn tỉnh L ban hành Quyết định số 217/QĐ-SNN phê duyệt Phương án trồng rừng sản xuất tại xã V giai đoạn 2015-2021 của Công ty P1, trên diện tích 25 ha (diện tích Công ty P1 đã phát dọn để trồng thử nghiệm cây Cao su) gồm các lô 1,2,3 4 khoảnh 2; lô 1, 2 khoảnh 3 tiểu khu A xã V, thành phố L; loài cây trồng là cây Xoan ta; tổng mức đầu tư là 1.664.282.483đồng. Thời gian trồng, chăm sóc từ năm 2015, thời gian kết thúc đầu tư, chăm sóc, bảo vệ năm 2021, các năm tiếp theo tổ chức quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Sau khi được bàn giao diện tích rừng theo Quyết định số 217 ngày 14/9/2015 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L, Công ty P1 đã triển khai dự án. Năm 2015 trồng 10 ha gồm cây Xoan ta, cây Quế, cây L, năm 2016 trồng 05ha cây Quế xen lẫn Chuối tiêu hồng, năm 2017 trồng 05ha cây Quế xen lẫn Chuối tiêu hồng, năm 2018 trồng trồng 05 ha cây Quế xen lẫn Chuối tiêu hồng.

Ngày 10/11/2019, Nguyễn Thế Y ký hợp đồng hợp tác đầu tư số 01/HĐHTĐT với Bùi Việt T, thỏa thuận trồng 10ha rừng sản xuất (trồng cây quế). Bị cáo Bùi Việt T đã triển khai thực hiện trồng 6,93ha cây Quế (trong đó có 0,26ha nằm trong diện tích 25ha được cho phép tại quyết định 217/QĐ-SNN và 6.67ha nằm ngoài diện tích 25ha theo Quyết định 217/QĐ-SNN thuộc lô A, khoảnh 1, tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai). Quá trình triển khai thực hiện trồng cây quế, Bùi Việt T phát dọn cỏ, giữ lại các cây rừng tự nhiên tái sinh để làm bóng mát cho cây quế. Đầu năm 2024, khi cây quế lớn, cần ánh sáng để phát triển, Bùi Việt T đặt vấn đề với bị cáo Nguyễn Thế Y xin chặt bỏ toàn bộ số cây rừng bên trong đồi quế, để cây quế có ánh sáng phát triển. Nguyễn Thế Y đã đồng ý cho Bùi Việt T thực hiện việc chặt hạ cây rừng theo đề nghị của Bùi Việt T. Khoảng tháng 3/2024, Bùi Việt T đã trao đổi với Đỗ Văn N về việc cần chặt bỏ tất cả các cây không phải là quế trong và ven rừng quế làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây quế, Bùi Việt T nhờ Lâm Văn H2 dẫn Đỗ Văn N vào khu vực rừng quế để xem vị trí đồi quế và các cây gỗ cần chặt, khi khai thác lấy gỗ bán được bao nhiêu thì N hưởng. Khoảng ngày 05 - 07/6/2024, Đỗ Văn N nói với Nguyễn Văn P là người cùng làng về việc chặt hạ cây rừng trong đồi quế. Sau đó, Đỗ Văn N dẫn Nguyễn Văn P lên xem vị trí đồi quế và các cây gỗ để khai thác. Sau khi xem vị trí các cây gỗ cần khai thác, P đồng ý và cùng Đỗ Văn N đến nhà Bùi Việt T, tại đây Bùi Việt T có thúc giục N và P làm nhanh để cuối năm còn tỉa cành quế. Nguyễn Văn P có hỏi N về việc khai thác gỗ có cần xin giấy phép của cơ quan Kiểm lâm không thì Đỗ Văn N có nói với P là “Cứ làm đi có gì anh T xin cho”. Đến khoảng ngày 13/6/2024, Nguyễn Văn P thuê được 04 công nhân để khai thác gỗ. Nguyễn Văn P mang theo cưa xăng, cùng với Đỗ Văn N và 04 công nhân đi lên khu vực đồi quế thực hiện việc khai thác các cây gỗ bên trong đồi quế và các cây gỗ xung quanh ngoài khu vực đồi quế. Quá trình khai thác gỗ, Nguyễn Văn P là người trực tiếp dùng cưa máy cắt hạ các cây gỗ, cắt thành các khúc, lóng gỗ theo quy cách mục đích để bán cho xưởng ván bóc, 04 công nhân được thuê vác, vần các khúc lóng gỗ xuống bãi tập kết tại chân đồi quế. Khi P dùng cưa chặt hạ các cây gỗ, Đỗ Văn N dùng dao chặt các cành cây gỗ đã chặt hạ mục đích để cành không đè làm gãy cây quế, do địa hình khó vận chuyển các khúc lóng gỗ xuống bãi tập kết, Đỗ Văn N là người đi mượn “Tời” cho Nguyễn Văn P để tời các khúc gỗ to xuống bãi tập kết ở chân đồi quế. Trong thời gian Đỗ Văn N, Nguyễn Văn P cùng 04 người làm thực hiện việc chặt hạ các cây gỗ trong khu vực đồi quế, Bùi Việt T nhiều lần vào khu vực đồi quế gặp P và N để thúc giục trển khai nhanh chặt hạ các cây gỗ trái phép.

Ngày 01/07/2024, Hạt Kiểm lâm thành phố L kiểm tra khu vực rừng do Công ty P1 quản lý, thuộc Tiểu khu A thôn S, xã V, thành phố L (nay là phường L), phát hiện từ khoảng ngày 13/6/2024 đến ngày 01/7/2024, Nguyễn Văn P, Đỗ Văn N và 04 công nhân được thuê đã thực hiện việc khai thác trái phép tổng số cây gỗ rừng tự nhiên lại vị trí lô 12 và 12a, tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L (nay là phường L, tỉnh Lào Cai) 238 cây gỗ rừng gồm các loài: Máu chó, N2, S, D, V1 trứng, M nài, Màng tang, Xoan ta, T5, Bồ đề, M1, Xoan C1, Xoan N3, H, H, SP, được cắt thành 856 lóng khúc và 03 cây được cắt cành, ngọn còn nguyên thân có tổng khối lượng là 40,75m³, cụ thể: Số lượng cây gỗ bị khai thác nằm trong diện tích trồng Q là 157 cây, đã được cắt thành 578 lóng, khúc, có tổng khối lượng 15,282m³, gồm các loài: Bồ đề, Xoan ta, T5, Màng tang, H3 véc, S1, Máu chó, Mít nài; Số lượng cây gỗ bị khai thác nằm ngoài diện tích trồng Q là 81 cây, đã cắt thành 272 lóng, khúc có khối lượng 25,468m³ gồm các loài: Ràng ràng, D, S, Màng tang, H3 đay, K, S1, M nài, N2, V1 trứng, Vải thiều rừng, Máu chó, S2.

Tại Kết luật giám định số 04-2024/KL/GĐTT ngày 10/10/2024 của Sở Nông nghiệp và Phát triên nông thôn tỉnh L xác định:

  1. Vị trí, ranh giới lô, khoảnh, tiểu khu có các cây gỗ bị khai thác.

    Vị trí các cây gỗ bị khai thác thuộc các lô 12 và 12a, khoảnh 1, tiểu khu A, thuộc thôn S, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

  2. Loại rừng, chức năng có các cây gỗ bị khai thác

    + Khu vực rừng có các cây gỗ bị khai thác tại lô A, khoảnh 1, tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L là rừng tự nhiên, chức năng sản xuất; kết quả kiểm tra giám định tại hiện trường khu vực rừng này chủ yếu đã trồng cây Q và xen kẽ có các cây Xoan ta, Bồ đề, T5...

    + Khu vực rừng có các cây gỗ bị khai thác tại lô 12a, khoảnh A, tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L là rừng tự nhiên, chức năng sản xuất; kết quả kiểm tra giám định tại hiện trường là rừng tự nhiên, chức năng sản xuất.

  3. Chủ quản lý rừng có các cây gỗ bị khai thác

    Khu vực rừng có các cây gỗ bị khai thác tại lô 12 và 12a, khoảnh 1, tiểu khu A, thôn S, xã V là do Công ty P1 (Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thế Y) là chủ quản lý rừng.

  4. Xác định loại rừng trước thời điểm trồng cây Q có cây gỗ bị khai thác.

    Loại rừng trên diện tích 6,93ha trước thời điểm trồng cây Quế có các cây gỗ bị khai thác là rừng tự nhiên, chức năng sản xuất, chủ quản lý rừng trước thời điểm bàn giao cho Công ty P1 là Ban quản lý rừng phòng hộ thành phố Q1.

  5. Xác định diện tích đã trồng quế có nằm trong diện tích được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai phê duyệt cho Công ty P1 trồng rừng theo Quyết định số 217/QĐ-SNN ngày 14/9/2015.

    Diện tích đã trồng cây Q là 6,93ha thuộc lô A, khoảnh 1, tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L, trong đó: Có 0,26 ha nằm trong diện tích theo Quyết định số 217/QĐ-SNN ngày 14/9/2015 và có 6,67 ha nằm ngoài diện tích theo Quyết định số 217/QĐ-SNN ngày 14/9/2015.

  6. Xác định số lượng cây gỗ bị khai thác: Tổng số lượng cây gỗ bị khai thác là 238 cây, khối lượng gỗ bị khai thác là 40,75m³, cụ thể:

    + Số lượng cây gỗ bị khai thác nằm trong diện tích trồng Q là 157 cây, đã được cắt thành 578 lóng, khúc, có tổng khối lượng 15,282m³, trong đó: Có 120 cây gỗ rừng trồng gồm các loài: Bồ đề, Xoan ta, Trẩu được cắt thành 383 lóng, khúc, khối lượng 9,595m³; có 37 cây gỗ rừng tự nhiên gồm các loài: Màng tang, H3 véc, S1, Máu chó, M nài..., đã được cắt thành 195 lóng, khúc, khối lượng 5,687m³.

    + Số lượng cây gỗ bị khai thác nằm ngoài diện tích trồng Quế là 81 cây, khối lượng 25,468m³, trong đó: Có 78 cây, đã được cắt thành 278 lóng, khúc, khối lượng 23,166m³; có 03 cây gỗ rỗng ruột, đã được cắt cành, ngọn và còn nguyên phần thân cây, khối lượng 2,302m³, gồm các loài: Ràng ràng, D, S, Màng tang, H3 đay, K, S1, M nài, N2, V1 trứng, Vải thiều rừng, Máu chó, S2...

Tại kết luật giám định số 311-2024/KL/LNNĐ, ngày 24 tháng 9 năm 2024 của V3 Nhiệt đới xác định:

  1. Giám định loại gỗ: 27 mẫu vật gỗ được trích lấy ngẫu nhiên từ 22 lóng, khúc gỗ và 05 gốc cây gỗ bị khai thác trái pháp luật tại Tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai do Hạt Kiểm lâm thành phố L trưng cầu, được xác định là các loại gỗ thông thường, không có tên trong Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ và Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Gồm các loại gỗ (chi tiết hồ sơ tài liệu kèm theo).
  2. Giám định tuổi cây: 12 thớt gỗ từ các cây bị khai thác trái phép nằm trong diện tích có trồng cây quế để xác định tuổi, được xác định các cây gỗ đã có từ nhiều năm về trước như có độ tuổi từ 05 đến 34 năm (từ 1990-2019). Cụ thể: Mít nài (số thứ tự 169, đường kính gốc 33cm, 24-26 tuổi), N2 (số thứ tự 125, đường kính gốc 22cm, 30-32 tuổi); Xoan ta (số thứ tự 186, đường kính gốc 14cm, 07-08 tuổi); Màng tang (số thứ tự 138, đường kính gốc 20cm, 16-18 tuổi); Bồ đề (số thứ tự 17, đường kính gốc 17cm, 08-10 tuổi); Trẩu (số thứ tự 95, đường kính gốc 24cm, 07-09 tuổi); Hu véc (số thứ tự 67, đường kính gốc 9cm, 05-07 tuổi); Máu chó (số thứ tự 70, đường kính gốc 19cm, 13-15 tuổi); Sui (số thứ tự 71, đường kính gốc 51cm, 32-34 tuổi); SP (T2 số thứ tự 184, đường kính gốc 24cm, 15-17 tuổi); SP (T6 số thứ tự 196, đường kính gốc 28cm, 22-24 tuổi); SP (T10 số thứ tự 141, đường kính gốc 14cm, 23-25 tuổi).

Tại kết luật định giá tài sản tố tụng hình sự số: 34/KL-HÐÐG ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố L kết luận:

Tổng khối lượng 40,75 m³ gỗ tròn Màng tang, Ràng ràng, D, S, Máu chó, M nài, S2, Vải thiều rừng, V1 trứng, S1, N2, X nhừ, Bản xe, Chắp trơn, Tần bì, Ba bét, S3 (từ nhóm V-VIII), có giá trị 36.231.490 đồng, cụ thể:

  • + Gỗ nhóm V: 9,874m³ x 950.000đ/m³ x 80% = 7.504.240 đồng.
  • + Gỗ nhóm VI: 15,654m³ x 1.500.000đ/m³ x 80% = 18.784.800 đồng.
  • + Gỗ nhóm VII: 4,030m³ x 1.500.000đ/m³ x 50% = 3.227.250 đồng.
  • + Gỗ nhóm VIII: 11,192m³ x 1.500.000đ/m³ x 40% = 6.715.200 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 19-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6- Lào Cai (Được Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 20/2025/TB-TA ngày 15-10-2025) đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 232; Điểm b, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Thế Y 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo 28 ngày tạm giam. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thế Y 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 232; Điểm b, điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Bùi Việt T 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo 35 ngày tạm giam. Phạt bổ sung bị cáo Bùi Việt T 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 232; Điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Đỗ Văn N 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo 39 ngày tạm giam.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn P, quyết định xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy định của pháp luật.

  • -Ngày 01-10-2025, bị cáo Nguyễn Thế Y kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội.
  • - Ngày 01-10-2025, bị cáo Bùi Việt T kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo 02 năm cải tạo không giam giữ.
  • - Ngày 02-10-2025, bị cáo Đỗ Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thế Y giao nộp Giấy xác nhận ngày 15-11-2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L về việc công dân cung cấp thông tin có giá trị trong công tác phòng, chống tội phạm; bị cáo Bùi Việt T giao nộp Giấy xác nhận ngày 03-11-2025 của Công an phường C, tỉnh Lào Cai về việc tiếp nhận tài sản nhặt được để trả cho chủ sở hữu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo Nguyễn Thế Y khai nhận đã đồng ý Bùi Việt T chặt cây trên diện tích đất rừng tự nhiên sản xuất mà Công ty TNHH MTV P1 được giao quản lý, bảo vệ; thừa nhận Toà án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo xin được giảm hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo Bùi Việt T bổ sung kháng cáo xin được xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo. Bị cáo Đỗ Văn N giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên trình bày quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 19-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6- Lào Cai, theo hướng cho giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thế Y và cho các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét xét, giải quyết phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thế Y thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo Bùi Việt T bổ sung nội dung kháng cáo được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Thế Y là Giám đốc Công ty TNHH MTV P1, doanh nghiệp 100% vốn tư nhân, được Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên tại tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L (nay là phường L, tỉnh Lào Cai) để trồng xen kẽ quế, xoan ta, lát, đồng thời có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng. Đầu năm 2024, Nguyễn Thế Y đồng ý cho Bùi Việt T chặt bỏ toàn bộ số cây rừng bên trong đồi quế trồng thuộc khu vực rừng tự nhiên được giao. Trong khoảng thời gian khoảng từ ngày 13-6-2024 đến 01-7-2024, Bùi Việt T bàn bạc với Đỗ Văn N và Nguyễn Văn P rồi thực hiện khai thác trái phép tổng khối lượng là 31,155m³ gỗ thông thường thuộc tại lô 12 và 12a, tiểu khu A nằm trong phạm vi diện tích rừng tự nhiên Nhà nước giao cho Công ty TNHH MTV P1 quản lý, bảo vệ. Hành vi của các bị cáo khai thác gỗ thuộc rừng sản xuất là rừng tự nhiên mà không có quyết định hoặc giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã trực tiếp vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017. Do đó, Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế Y cho rằng mình không phạm tội, Hội đồng xét xử thấy Bị cáo Nguyễn Thế Y là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ 236,9 ha diện tích rừng tự nhiên thuộc tiểu khu A, thôn S, xã V, thành phố L (nay là phường L, tỉnh Lào Cai), bị cáo biết được các quy định của pháp luật trong quản lý, bảo vệ rừng và khai thác, quản lý lâm sản. Mặc dù bị cáo không phải là người có chức vụ, quyền hạn, nhưng vẫn đồng ý cho các bị cáo Bùi Việt T, Đỗ Văn N và Nguyễn Văn P khai thác gỗ trong diện tích rừng tự nhiên được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ. Do đó, Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Y là đồng phạm với các bị cáo Bùi Việt T, Đỗ Văn N về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” là chính xác, không oan.

[4] Khi quyết định hình phạt, Bản án sơ thẩm đã nhận định, đánh giá đúng về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, vai trò phạm tội của mỗi bị cáo, đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mỗi bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, mức hình phạt đối với mỗi bị cáo là thoả đáng, phù hợp khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Y thay đổi nội dung kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thức được lỗi lầm và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó bị cáo Y được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Y xuất trình Giấy xác nhận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L về việc cung cấp thông tin có giá trị trong công tác phòng chống tội phạm, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới trong giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo Y một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo T có xác nhận của Công an phường C, tỉnh Lào Cai về việc giao nộp tài sản nhặt được để trả lại cho chủ sở hữu, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N Hội đồng xét xử thấy: Mục đích khai thác cây rừng là để đảm bảo cho cây Q trồng trong rừng tự nhiên sinh trưởng, phát triển, chứ không phải triệt hạ rừng; giá trị cây gỗ bị khai thác không lớn; các bị cáo đều đã nhận thức được lỗi lầm, tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo này được hưởng án treo cũng vẫn đảm bảo được tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo để sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 19-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6- Lào Cai, theo hướng cho giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thế Y và cho các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Việc sửa án sơ thẩm là do phát sinh tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm, nên cấp sơ thẩm không có lỗi.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T và Đỗ Văn N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 19-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6- Lào Cai như sau:

  • - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 232; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Y 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 232; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Việt T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Chi cục Hải quan khu vực VII giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 232; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục.
  • - Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Các bị cáo Nguyễn Thế Y, Bùi Việt T, Đỗ Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1- TANDTC;
  • - Toà PT- TANDTC tại Hà Nội;
  • - Viện PT 1- VKSNDTC;
  • - UBKT Đảng uỷ UBND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Cq CSĐT- CA tỉnh Lào Cai;
  • - Cq THAHS- CA tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Lào Cai;
  • - TAND KV6- Lào Cai (6);
  • - VKSND KV6- Lào Cai;
  • - Phòng THADS KV6 tỉnh Lào Cai;
  • - Chi cục Hải quan KV7;
  • - Bị cáo (3-TN)
  • - Lưu: HS(2), TA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HS-PT ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 53/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Yên và đồng phạm phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger