Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-6-2025.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Chiến.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Thanh Hải;
    • Ông Đào Duy Trâm.
  • Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Vân - Là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà My La - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Ka B, sinh năm: 1994; nơi cư trú: 207 thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: ông Phạm T, sinh năm: 1993; nơi cư trú: B xóm E, thôn C, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bà B có mặt, ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Ka B thì:

- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại xã L, thành phố B một thời gian thì chuyển về thôn C, xã L, huyện D sinh sống. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2023 đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, có đánh nhau. Mâu thuẫn vợ chồng bà không báo chính quyền địa phương cũng như các đoàn thể tại địa phương biết. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay, bà ở nhà cha mẹ của bà còn ông T ở nhà cha mẹ của ông T, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Phạm Tuấn .

- Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Gia B1, sinh ngày 05/8/2021, hiện con đang ở với ông T. Do con đang ở với ông T nên khi ly hôn bà đồng ý giao con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng ông T không đến Tòa làm việc.

Tại phiên tòa, bà Ka B yêu cầu được ly hôn ông Phạm T; đồng ý giao con chung là cháu Phạm Gia B1, sinh ngày 05/8/2021 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Ông T vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, thì Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: xét mâu thuẫn giữa bà B và ông T có xảy ra và thực tế đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, trình bày ý kiến, tham gia phiên tòa là thể hiện thái độ bỏ mặc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của B, cho bà B và ông T được ly hôn.

Về con chung: giữa bà B và ông T có một con chung là cháu Phạm Gia B1, sinh ngày 05/8/2021, hiện con đang ở với ông T, có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bà B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ tuổi thành niên nên ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: bà B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: buộc bà B phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của bà B yêu cầu được ly hôn với ông T; đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
  2. [2] Về tố tụng: ông T vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: bà B và ông T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Theo bà B thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2023 đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, có đánh nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay bà B xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
  4. Tòa án triệu tập hợp lệ ông T nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc, không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng là thể hiện thái độ bỏ mặc, hơn nữa bà B và ông T đã sống ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà B và ông T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà B. Cho bà B và ông T được ly hôn.

  5. [4] Về con chung: giữa bà B và ông T có một con chung là cháu Phạm Gia B1, sinh ngày 05/8/2021. Ly hôn bà B đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Xét thấy cháu B1 hiện đang ở với ông T, có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu B1, cần giao cháu B1 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu B1 đủ tuổi thành niên. Bà B đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/tháng nên buộc bà B cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp.
  6. [5] Về tài sản chung và nợ chung: bà B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
  7. [6] Về án phí: bà B phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Ka B và ông Phạm Tuấn ly H.
  2. Về con chung: giao con chung là cháu Phạm Gia B1, sinh ngày 05/8/2021 cho ông Phạm T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bà Ka B cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi con đủ tuổi thành niên.
  3. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  4. Về án phí: bà Ka B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con (được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo biên lai thu số 0009621 ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Bà B còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà B được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử phúc thẩm; riêng ông T vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND xã Gung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Thanh Hải – Đào Duy Trâm

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn Ka B - Phạm T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger