TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày 27 - 3- 2025 V/v: Ly hôn | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân
Bà Nguyễn Hồng Xứng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 127/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1999
Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Ông CHOI CHANGEUN, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số C Y-ri, bukpyeong - M, haenam – G, jeollanam – Do, republic Of Korea.
(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L trình bày: Năm 2019, bà L có quen biết ông CHOI CHANGEUN, sau khi tìm hiểu hai bên nảy sinh tình cảm, vợ chồng bà L làm đám cưới theo phong tục tập quán của người Việt Nam, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 13/02/2019.
Sau khi kết hôn, ông CHOI CHANGEUN về Hàn Quốc, bà L ở lại Việt Nam học tiếng Hàn Quốc, 03 tháng sau bà L sang Hàn Quốc sống cùng chồng. Sau khi qua Hàn Quốc vợ chồng bà L chung sống hòa thuận hạnh phúc được 03 tháng thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về ngôn ngữ và phong tục tập quán nên khó thích nghi, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không được tốt, ông CHOI CHANGEUN không quan tâm chăm sóc bà L, ông CHOI CHANGEUN không cho bà L ra ngoài làm việc nên kinh tế gia đình phụ thuộc vào chồng, bà L chỉ ở nhà làm việc nội trợ, cuộc sống vợ chồng tù túng, tình cảm dần phai nhạt. Đến tháng 02/2020 bà L về Việt Nam thăm gia đình và không quay lại Hàn Quốc lần nào nữa.
Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện ly hôn. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Cho bà được ly hôn với ông C CHANGEUN.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông CHOI CHANGEUN: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ cho ông CHOI CHANGEUN về yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc L, nhưng không có kết quả. Do đó, Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục đăng trên cổng thông tin điện tử và niêm yết các thủ tục tố tụng tại Đ tại Hàn Quốc, ấn định thời gian để ông C CHANGEUN thực hiện quyền trình bày ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, cũng như thông báo thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án cho ông CHOI CHANGEUN được biết, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông C CHANGEUN vẫn vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được ý kiến của ông C CHANGEUN.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; đối với ông CHOI CHANGEUN vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp, thông báo và niêm yết hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 và 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L:
Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện bà Trần Thị Ngọc L và ông CHOI CHANGEUN quen biết nhau, hai bên có tình cảm yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 13/02/2019. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc L và ông C CHANGEUN là hợp pháp.
Bà L xác định, sau khi kết hôn bà L sang Hàn Quốc sống cùng chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về ngôn ngữ và phong tục tập quán nên khó thích nghi, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không được tốt, ông CHOI CHANGEUN không quan tâm chăm sóc bà L, không cho bà L ra ngoài làm việc nên kinh tế gia đình phụ thuộc vào chồng, bà L chỉ ở nhà làm việc nội trợ, cuộc sống vợ chồng tù túng nên tình cảm dần phai nhạt. Đến tháng 02/2020 bà L về Việt Nam thăm gia đình và không quay lại Hàn Quốc lần nào nữa.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông C CHANGEUN.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, thông báo và niêm yết hợp lệ cho ông CHOI CHANGEUN, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông CHOI CHANGEUN vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà L Tòa án xem xét.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc L và ông C CHANGEUN đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc L.
[3] Về con chung: Bà L xác định không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử xem xét.
[5] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp.
[6] Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà L phải chịu chi phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, bà L đã nộp xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông CHOI CHANGEUN
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp, theo biên lai thu tiền số 0005535 ngày 28/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Trần Thị Ngọc L phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng, đã nộp xong theo biên lai thu số 0099648 ngày 06/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Ngọc L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông CHOI CHANGEUN có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L- C
