TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-5-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Biên.
2. Ông Trần Đình Tư.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998 (Có mặt);
Nơi cư trú: số F, ngõ F, Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1992 (Có mặt);
Nơi cư trú: số F, ngõ F, Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 19/3/2025, Biên bản lấy lời khai ghi ngày 28 tháng 4 năm 2025, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn T ngày 05/12/2016, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, khi cưới được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng gia đình chồng tại T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên từ khoảng đầu năm 2021 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân chủ yếu là do anh T chơi bời cờ bạc, có người phụ nữ khác bên ngoài, không chăm lo cho gia đình. Mặc dù chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo anh T nhưng anh vẫn chứng nào tật nấy, không chịu sửa chữa, chăm lo cho gia đình. Anh T thường xuyên vắng nhà, thậm chí đến ngày lễ Tết anh T cũng chỉ về nhà đúng một ngày 30 Tết rồi lại đi tiếp, không gọi điện về thăm hỏi gia đình, con cái. Vợ chồng chị không quan tâm gì đến nhau, không còn mối quan hệ gì về tình cảm, kinh tế. Hiện chị nhận thấy vợ chồng chị mâu thuẫn đã rất trầm trọng, không thể hoà giải, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023. Hiện nay, hai cháu đang sinh sống cùng chị. Quá trình giải quyết, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai cháu Anh T1 và Đức Huy cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Anh T1 và Đức H1 theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con với mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Lý do chị đề nghị được nuôi cả hai con vì mấy năm nay anh T sinh sống ở nơi khác, không về thăm vợ con cũng không chu cấp tiền ăn học, sinh hoạt cho hai con, các con đau ốm cũng không thấy anh T có mặt. Do anh T không thăm nom, gần gũi các con nên các cháu cũng không quý mến bố. Chị hiện tại làm nghề thu ngân ở nhà hàng Trung Quốc, lương mỗi tháng dao động từ 16.000.000 đồng đến 21.000.000 đồng, thời gian làm từ sáng đến khoảng 17h chiều thì về tới nhà nên đưa đón được các con đi học và chăm sóc được các con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị xác định chị và anh T không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 28/4/2025 và Biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025, bị đơn anh Trần Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị H vì anh không còn tình cảm với chị H, vợ chồng anh chị cũng sống ly thân khoảng hơn 2 năm nay.
- Về con chung: Anh xác nhận anh và chị H có 02 con chung tên Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng với mẹ ruột anh và chị H tại số F, ngõ F, Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình giải quyết, anh không đồng ý với yêu cầu của chị H về con chung, anh đề nghị được nuôi cả hai con, không yêu cầu chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng. Tại phiên tòa, anh đề nghị được nuôi cháu Trần Đức H1, chị H nuôi cháu Trần Anh T1, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng. Hiện anh làm ở quán Internet, lương mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Anh xác nhận hiện tại sống ở quán Internet cách nhà khoảng 10km, không sống cùng chị H và các con, không thường xuyên về thăm gia đình, chỉ đến Tết năm 2025 anh về nhà 01 ngày rồi lại đi luôn vì không có ai trông quán Internet. Anh cũng xác nhận hơn 02 năm nay không gửi tiền về cho chị H để nuôi 02 con, khoảng 2 tháng đến 3 tháng anh mới gọi về một lát cho các con nên hai con không quý mến anh vì anh ít tiếp xúc và chăm sóc con. Nếu trường hợp chị H được nuôi dưỡng 02 con thì anh cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H với mức 1.500.000 đồng/tháng/01 cháu cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án tiến hành xác minh với ông Đỗ Văn L là Tổ trưởng Tổ dân phố Trước, phường T, ông L cung cấp thông tin như sau:
Chị H và anh T là vợ chồng hợp pháp, hiện anh T đang đi làm tự do ở S, N, thành phố B, ít khi về nhà. Chị H cùng hai con sinh sống cùng bố mẹ anh T ở Tổ dân phố T, phường T. Anh T không quan tâm đến vợ con, đã bỏ nhà đi khoảng hơn 2 năm nay. Vợ chồng anh T chị H có mâu thuẫn nhưng chính quyền địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn.
* Tòa án tiến hành lấy lời khai với cháu Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 là con chung của chị H và anh T, cháu T1 trình bày như sau:
Hiện nay cháu đang sinh sống cùng với mẹ, cháu biết việc bố mẹ cháu không sinh sống cùng nhau. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu muốn ở cùng với mẹ và em trai vì từ nhỏ đến lớn chỉ có mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, bố thường xuyên bỏ nhà đi và đã không sống cùng mẹ con cháu khoảng 02 năm nay, bố cũng không về thăm cháu và cũng không mua quần áo, bánh kẹo, đồ dùng học tập cho cháu.
* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải. Tại phiên hòa giải, chị H và anh T giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
* Tại phiên tòa ngày 26/5/2025:
- Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023. Anh Trần Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng 02 con chung với mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con kể từ tháng 05/2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu cả 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp. Hoàn trả chị H 150.000 đồng. Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Kiến nghị, khắc phục: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Trần Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
- Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T kết hôn ngày 05/12/2016, (là thời điểm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014), kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Quá trình chung sống, Hội đồng xét xử thấy chị H và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn sau khi kết hôn. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do anh T chơi bời cờ bạc, có người phụ nữ khác bên ngoài, không chăm lo cho gia đình. Hơn 02 năm nay anh T không sống chung cùng chị đến ngày lễ tết, anh T cũng chỉ về nhà đúng một ngày 30 Tết rồi lại đi tiếp. Chị H yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với anh T, anh T nhất trí vì không còn tình cảm với chị H. Do vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng chị H anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xét thấy chị H và anh T thật sự tự nguyện ly hôn nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T.
[2.2] Về yêu cầu giải quyết con chung của nguyên đơn: Chị H yêu cầu Tòa án giao cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023. Anh T không đồng ý với yêu cầu của chị H, anh đề nghị được nuôi cháu Trần Đức H1, chị H nuôi cháu Trần Anh T1. Hội đồng xét xử thấy: Tại thời điểm Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị H và anh T, cháu Anh T1 đã đủ 7 tuổi, cháu trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H sau khi bố mẹ cháu ly hôn vì lý do từ nhỏ đến lớn chỉ có mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, bố thường xuyên bỏ nhà đi và đã không sống cùng mẹ con cháu khoảng 02 năm nay, bố cũng không về thăm cháu và em trai. Hiện nay, cháu Anh T1 và cháu Đức H1 đang sinh sống cùng chị H, chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu. Quá trình giải quyết và lấy lời khai đương sự, nguyên đơn chị H trình bày: Lý do chị đề nghị được nuôi cả hai con vì mấy năm nay anh T sinh sống ở nơi khác, không về thăm vợ con cũng không chu cấp tiền ăn học, sinh hoạt cho hai con, các con đau ốm cũng không thấy anh T có mặt. Do anh T không thăm nom, gần gũi các con nên các cháu cũng không quý mến bố. Cháu Đức H1 mới được 01 tuổi 8 tháng nhưng đã hơn hai năm nay anh T không về thăm con nên cháu còn chưa quen mặt bố. Chị hiện tại làm nghề thu ngân ở nhà hàng Trung Quốc, lương mỗi tháng dao động từ 15.000.000 đồng đến 21.000.000 đồng, thời gian từ sáng đến khoảng 17h chiều thì về tới nhà nên đưa đón được các con đi học và chăm sóc được các con.
Bị đơn anh T trình bày: Anh xác nhận hiện tại sống ở quán Internet cách nhà khoảng 10km, không sống cùng chị H và các con, không thường xuyên về thăm gia đình, chỉ đến Tết năm 2025 anh về nhà 01 ngày rồi lại đi luôn vì không có ai trông quán Internet. Anh cũng xác nhận hơn 02 năm nay không gửi tiền về cho chị H để nuôi 02 con, khoảng 2 tháng đến 3 tháng anh mới gọi về một lát cho các con nên hai con không quý mến anh vì anh ít tiếp xúc và chăm sóc con. Tòa án tiến hành xác minh với Tổ trưởng Tổ dân phố Trước, phường T là ông Đỗ Văn L được ông L cung cấp thông tin như sau: Chị H và anh T là vợ chồng hợp pháp, hiện anh T đang đi làm tự do ở S, N, thành phố B, ít khi về nhà. Chị H cùng hai con sinh sống cùng bố mẹ anh T ở Tổ dân phố T, phường T. Anh T không quan tâm đến vợ con, đã bỏ nhà đi khoảng hơn 2 năm nay, không cư trú tại địa phương. Như vậy, trong khoảng thời gian 02 năm trở lại đây, anh T chưa làm tròn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định tại Điều 69, Điều 71, Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “...Thương yêu con, chăm lo việc học tập, giáo dục con....”, “...Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên”, “...Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên....”, “...Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập”. Chị H có công việc ổn định, thu nhập đảm bảo cho việc nuôi dưỡng các con, có thời gian chăm sóc các con. Do vậy, để đảm bảo nguyện vọng của con chung và ổn định chỗ ở, học tập, tâm sinh lý của trẻ đồng thời đảm bảo quyền lợi của con được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt nhất sau khi bố mẹ ly hôn cần giao cháu Trần Anh T1 và cháu Trần Đức H1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con với mức mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con kể từ thời điểm tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tại phiên tòa, anh T trình bày như sau: Hiện anh đang làm ở quán Internet, lương mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu chị H được nuôi dưỡng 02 con thì anh cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H với mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con kể từ thời điểm tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Như vậy, mức cấp dưỡng mà chị H yêu cầu hoàn toàn phù hợp và được anh T đồng ý, do vậy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị H và anh T về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023 với mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con kể từ thời điểm tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.
[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.5] Về án phí: Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do chị H và anh T đã tự nguyện ly hôn trước khi mở phiên tòa nên chị Nguyễn Thị H phải chịu 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh Trần Văn T phải chịu 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, tuy nhiên chị H tự nguyện chịu cả 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp. Hoàn trả lại chị H 150.000 đồng. Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.6] Về công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu giải quyết về công sức đóng góp trong thời gian vợ chồng chung sống với gia đình anh T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[2.8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Anh T1, sinh ngày 06/4/2016 và Trần Đức H1, sinh ngày 05/9/2023 đến khi cháu Anh T1 và cháu Đức H1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Anh T1 và cháu Trần Đức H1 với mức 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 con kể từ thời điểm tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002515 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả chị H 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí. Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án lý hôn Nguyễn Thị H và Trần Văn T
