Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 25/11/2025

V/v "Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận

Ông Trần Đức Hoà

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 tham gia phiên tòa: không tham gia phiên toà.

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh Đồng Nai, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 92/HNGĐ-ST, ngày 02 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đinh Thị N, sinh năm 1990.

- Bị đơn: anh Vì Văn H, sinh năm 1982

Cư trú tại: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.

( Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần 2 không lý do )

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nhận ngày 25/8/2025 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị N trình bày: chị Đinh Thị N và anh Vì Văn H tự nguyện chung sống năm 2009 đến năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. C sống hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp do mỗi người một tính cách, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm, kinh tế gia đình khó khăn, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, sống ly thân từ tháng 6/2025 liên tục đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống bỏ mặc; thời gian sống ly thân anh H còn có hành vi đe doạ chị N, làm chị N thấy bất an. Hiện nay, chị N thấy không còn tình cảm với anh H, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh Đồng Nai giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Vì Văn H.

Về con chung: có một con chung là cháu V Mạnh V1, sinh năm 2010; sau ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1 cho đến khi cháu thành niên; không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn anh Vì Văn H qua lời khai trình bày: thừa nhận lời trình bày của chị N về việc chung sống, kết hôn; anh Vì Văn H và chị Đinh Thị N tự nguyện chung sống năm 2009, đến năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Về mâu thuẫn gia đình phát sinh năm 2025, mọi chuyện trong gia đình đều do chị N quyết định, anh H cảm thấy buồn nên có đi chơi, kinh tế gia đình khó khăn, anh H nghi ngờ chị N có quan hệ ngoại tình, từ đó vợ chồng xảy ra cãi vã, sống ly thân từ tháng 6/2025 liên tục đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Tuy nhiên anh H không muốn vợ chồng ly hôn, có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình.

Về con chung: có một con chung là cháu V Mạnh V1, sinh năm 2010; sau ly hôn anh H có ý kiến tùy cháu V1 có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Về tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được anh Vì Văn H và chị Đinh Thị N tự nguyện chung sống năm 2009, đến năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sơn La phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn bản sao, được chị N giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Vì Văn H và chị Đinh Thị N là hợp pháp.

Về mâu thuẫn gia đình: Qua nội dung lời khai của chị N và anh H xác định được vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm, kinh tế gia đình khó khăn, từ đó vợ chồng xảy ra cãi vã, sống ly thân từ tháng 6/2025 liên tục đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống bỏ mặc nhau; hiện nay phía anh H mong muốn được đoàn tụ gia đình, chị N kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn vì hai bên không thể khắc phục mâu thuẫn, anh H còn có hành vi đe dọa chị N, làm chị thấy bất an trong cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy qua nội dung lời khai các bên đương sự xác định được giữa chị N và anh H là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, dẫn đến chị N làm đơn yêu cầu được ly hôn, phía anh H mong muốn được đoàn tụ gia đình nhưng anh chưa thật sự có thiện chí, chưa khắc phục được nhưng mâu thuẫn, nhược điểm của bản thân, hiện nay anh H, chị N vẫn sống ly thân kéo dài, không khắc phục được tình trạng mẫu thuẫn đã xảy ra. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh H và chị N là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[2] Về con chung: có một con chung là cháu V Mạnh V1, sinh năm 2010; sau ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1 cho đến khi cháu thành niên; anh H có ý kiến tùy cháu V1 có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của cháu V1 có nguyện vọng được chung sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn; chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, để cháu V1 tiếp tục ổn định cuộc sống, sinh hoạt cần chấp nhận nguyện vọng của cháu V1, giao cháu V1 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Vũ thành N1; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của Bộ Luật Tố tụng dân sự đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2025;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Vì Văn H; giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89 ngày 18/12/2013 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sơn La không có giá trị pháp lý từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

[2] Về con chung: giao cháu Vì Mạnh V1, sinh năm 2010 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Vũ thành N1; không cấp dưỡng nuôi con.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị N nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ,theo biên lai thu tiền số 0029860, ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND Khu vực 12;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, T.tr;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (10).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LƯU THÙY LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ – ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger