Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và ông Phan Văn Tiến.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu, sinh năm 1997; địa chỉ: Xóm 1, thôn Tân Tiến, xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • * Bị đơn: Anh Phạm Quang Hưng, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Cam Hòa, xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

(Chị Thu, anh Hưng có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • * Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, bản trình bày ý kiến cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Bùi Thị Thu trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Chị và anh Hưng tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 17/02/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại gia đình anh Hưng ở thôn Cam Hòa, xã Thụy Liên được một thời gian, đến tháng 02/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cách sống. Từ đầu tháng 4/2025, chị Thu về nhà chị họ là Phạm Thị Nguyệt ở xóm 1 thôn Tân Tiến, xã Thái Đô sinh sống. Từ đó, vợ chồng sống ly thân. Nay, chị Thu xác định không còn tình cảm với anh Hưng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hưng.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Phạm Nhật Minh sinh ngày 30/9/2023. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con chung và yêu cầu anh Hưng cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản: Vợ chồng chị không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

  • * Tại bản tự khai, bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa, anh Phạm Quang Hưng trình bày:

Về hôn nhân: Anh đồng ý về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Thu trình bày. Vợ chồng hiện đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025, mặc dù anh đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Anh vẫn mong muốn được đoàn tụ với chị Thu để cùng nhau nuôi dạy con. Tuy nhiên, nếu chị Thu kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh chị có một con chung là Phạm Nhật Minh sinh ngày 30/9/2023, hiện đang sống cùng anh và ông bà nội. Chị Thu đề nghị Tòa án giải quyết con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Hưng cũng có nguyện vọng và đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị Thu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh chị không có nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

  • * Tại biên bản xác minh ngày 20/5/2025, Ủy ban nhân dân xã Thụy Liên cung cấp:

Chị Thu và anh Hưng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thụy Liên ngày 17/02/2023. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa phương, quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nay chị Thu làm đơn ly hôn anh Hưng, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Chị Thu và anh Hưng có một con chung là Phạm Nhật Minh sinh ngày 30/9/2023, hiện đang sống cùng anh Hưng. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên địa phương không có ý kiến.

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử cho chị Thu được ly hôn anh Hưng. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Phạm Nhật Minh cho chị Thu trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hưng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con từ 2.000.000 đến 2.200.000 đồng/tháng. Về tài sản chung không đặt ra giải quyết. Chị Thu, anh Hưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Phạm Quang Hưng có nơi cư trú tại xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thu, anh Hưng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị Thu, anh Hưng phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Thu và anh Hưng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Thu được ly hôn anh Hưng là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Thu và anh Hưng có một con chung là Phạm Nhật Minh sinh ngày 30/9/2023. Chị Thu và anh Hưng đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Chị Thu trình bày chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi sinh con ra, là người hiểu rõ nhất về tính cách, tình trạng sức khỏe, các nhu cầu sinh hoạt của con; chị có đầy đủ tình thương yêu và sự chăm sóc, giáo dục con. Hiện tại chị đã sắp xếp công việc, thời gian để đảm bảo việc nuôi dạy, đưa đón con đi học hàng ngày. Chị Thu cũng đã cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con gồm: Thẻ nhân viên và Hợp đồng thử việc tại Công ty TNHH Kỹ thuật hoạt hình Firstunion Việt Nam; bảng sao kê tiền lương; tài khoản tiết kiệm tại Ngân hàng số tiền 500 triệu đồng; đơn đề nghị của bà Bùi Thị Quy (dì ruột chị Thu) đồng ý để lại căn nhà đang để trống đầy đủ tiện nghi để chị Thu nuôi con.

Anh Hưng trình bày anh có điều kiện chăm sóc nuôi dạy con tốt hơn chị Thu, có thu nhập cao hơn; có chỗ ở ổn định, đầy đủ tiện nghi, từ khi sinh con ra anh luôn là người chăm sóc con. Anh cho rằng chị Thu tự ý bỏ về nhà ngoại không quan tâm đến con, không đủ tư cách để nuôi dạy, giáo dục con. Tuy nhiên, anh Hưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Xét thấy, con chung Phạm Nhật Minh còn quá nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, cần thiết phải giao cho chị Thu trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Hưng là người không trực tiếp nuôi con chung do đó anh Hưng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung là phù hợp với quy định pháp luật.

Về mức cấp dưỡng: Do các bên không thỏa thuận được nên Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; tuy nhiên mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Hiện mức lương tối thiểu vùng áp dụng tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình nơi anh Hưng cư trú là 3.860.000 đồng/tháng, như vậy mức cấp dưỡng không dưới 1.930.000 đồng/tháng đối với mỗi con.

Về phương thức cấp dưỡng: Do các bên không thỏa thuận được nên Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng.

[4] Về quan hệ tài sản: Chị Thu, anh Hưng xác định vợ chồng không có nợ chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Thu phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Hưng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Thu được ly hôn anh Phạm Quang Hưng.
  2. Về con chung: Giao con chung Phạm Nhật Minh sinh ngày 30/9/2023 cho chị Thu trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hưng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng, kể từ tháng 7 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Hưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Chị Thu, anh Hưng có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật khi cần thiết.

  1. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Bùi Thị Thu phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Thu đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000902 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sang thi hành án.

Anh Phạm Quang Hưng phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Thu, anh Phạm Quang Hưng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/6/2025.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã Thụy Liên;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger