|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Bính
- 2. Ông Nguyễn Văn Đô
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thơ – Kiểm sát viên.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2025/QÐST-DS ngày 23/5/2025 giữa:
Nguyên đơn: Bà Vương Anh T – sinh năm: 1989
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Tuyết N, Luật sư – Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh B.
Bị đơn: Ông Ngô Đa C – sinh năm: 1987
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bà T, ông C có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2025 nguyên đơn là bà Vương Anh T và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều trình bày: Bà Vương Anh T và ông Ngô Đa C tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 022/2016 ngày 19/4/2016.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông C không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông C, bà T không cùng quan điểm và cách nhìn nhận trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình, nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên từ đó bà T, ông C sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà T nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà Vương Anh T và ông Ngô Đa C có 01 người con chung tên Ngô Vương Nhã Đ, sinh ngày 18/12/2017. Hiện nay cháu Đ sống chung với bà T nên sau khi ly hôn bà T muốn tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Vương Anh T chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Vương Anh T xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Đa C đều trình bày: Ông Ngô Đa C và bà Vương Anh T tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 022/2016 ngày 19/4/2016.
Về mâu thuẫn để bà T làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn là đúng vì khi chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình và mâu thuẫn trầm trọng là vào đầu năm 2025 do khó khăn về kinh tế nên bà T đã tự dẫn con về nhà mẹ bà Thư sinh S nên ông C, bà T sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc giúp đỡ cho nhau do đó tình cảm không còn. Nay bà T làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, ông C đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông Ngô Đa C và bà Vương Anh T có 01 người con chung tên Ngô Vương Nhã Đ, sinh ngày 18/12/2017. Hiện nay cháu Đ sống chung với bà T nên sau khi ly hôn ông C muốn được nuôi con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông Ngô Đa C chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Ông Ngô Đa C xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Vương Anh T được ly hôn ông Ngô Đa C, buộc ông C giao con chung tên Ngô Vương Nhã Đ sinh ngày 18/12/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Vương Anh T chưa có yêu cầu ông C cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét. Bà T, ông C không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà T phải chịu án phí và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Vương Anh T có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Ngô Đa C có nơi cư trú tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Anh T và ông Ngô Đa C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 022/2016 ngày 19/4/2016, việc kết hôn không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Bà T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là tính cách của hai người không hợp nhau, quan điểm bất đồng, ông C sống thiếu trách nhiệm không quan tâm đến vợ con, không cùng quan điểm và cách nhìn nhận trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình, nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên từ đó bà T, ông C sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa và ông C cũng thừa nhận mâu thuẫn để bà T làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn là đúng vì khi chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống và mâu thuẫn trầm trọng là năm 2025 do khó khăn về kinh tế nên ông C, bà T sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc giúp đỡ cho nhau do đó tình cảm không còn. Nay bà T làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, ông C đồng ý ly hôn với bà T.
Như vậy lời trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn của bà T và ông C là thống nhất, thể hiện ông bà có sự bất đồng quan điểm sống, không có niềm tin đối với nhau, đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, không có sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hôn nhân của bà T và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, xử cho bà Vương Anh T được ly hôn với ông Ngô Đa C.
[2]Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Ngô Vương N1 Đan sinh ngày 18/12/2017 giới tính nữ, hiện nay con đang ở với bà T. Bà T, ông C đều đề nghị được trực tiếp nuôi con cho đến khi trưởng thành và tự nguyện không yêu cầu phía bên không nuôi con phải cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu Đ đang sống với bà T nên đã quen với điều kiện, môi trường sống và được T nuôi dưỡng, chăm sóc trong điều kiện tốt nhất nên việc giao cháu Đ cho ông C nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu, mặc khác hiện nay bà T đang làm việc tại Công ty TNHH N3, còn nơi cư trú, coâng vieäc thu nhaäp oån ñònh. Như vậy, việc giao con cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục không chỉ đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cháu Đ mà còn giúp đỡ bà T thực hiện tốt thiên chức cao cả của người mẹ là được trực tiếp nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái, điều đó hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, tại bản tự khai của cháu Đ vẫn có nguyện vọng được mẹ nuôi dưỡng và nếu căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con thì việc giao cháu Đ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông C có quyền thăm nom con chung là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà T chưa có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
Về tài sản chung: Bà T và ông C chưa có yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà T, ông C xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không giải quyết.
[3] Ý kiến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Ý kiến của Kiểm sát viên về trình tự thủ tục cũng như nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 262 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Anh T được ly hôn ông Ngô Đa C.
2.2. Về con chung: Buộc ông Ngô Đa C giao con chung tên Ngô Vương Nhã Đ, sinh ngày 18/12/2017 cho bà Vương Anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông C có quyền thăm nom con. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con và ngược lại vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.3. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Vương Anh T chưa có yêu cầu ông Ngô Đa C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
2.4. Về tài sản chung: Bà Vương Anh T và ông Ngô Đa C chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.5. Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Vương Anh T, ông Ngô Đa C xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không xem xét.
3. Về án phí:
Bà Vương Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002936 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/6/2025) bà B Vương Anh T, ông Ngô Đa C có quyền kháng cáo.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VƯƠNG ANH TLY HÔN, TRANH CHẤP VỀ NUÔI CON VỚI NGÔ ĐA C
