|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2025 V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và ông Nguyễn Văn Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 60/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1990. Nơi thường trú: Tổ A, khu phố M, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trường Giang E, sinh năm 1988. Nơi thường trú: Tổ 73, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, bà C có đơn xin vắng mặt; ông E vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trường Giang E tự nguyện tìm hiểu sau đó đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 157 ngày 29/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, về sau không còn hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà C và ông E bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi vả, ông E thường xuyên say rượu, cờ bạc, bà C đã nhiều lần can ngăn và bỏ qua lỗi lầm cho ông E nhưng ông E không thay đổi, không biết quay lại cố gắng làm việc và chăm lo cho gia đình, phụ bà chăm sóc con cái. Cả hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Nhận thấy, vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông E.
Về quan hệ con chung: Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trường Giang E có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết H, sinh gày 22/04/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/01/2022, hiện đang do bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà C không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Trường Giang E vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến trong quá trình tố tụng
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C. Bà C được ly hôn với ông E; về con chung, bà C được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết H, sinh gày 22/04/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/01/2022; về cấp dưỡng, ông E không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà C không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trường Giang E là tranh chấp về ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Trường Giang E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.
- Về quan hệ hôn nhân và gia đình:
- Hôn nhân giữa bà C và ông E xuất phát do tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1, 5 Điều 3; khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
- Bà C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông E, căn cứ để bà C yêu cầu do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã ly thân được thời gian, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết H, sinh ngày 22/04/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/01/2022. Hiện nay cháu H và cháu K đang sống cùng với bà C, hiện đang do bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi hai con chung. Xét thấy, hiện cháu H và cháu K đang sống ổn định cùng bà C, cháu H (12 tuổi) có nguyện vọng sống cùng với mẹ cháu là bà C, mặc khác, ông E cũng không có ý kiến tranh chấp về con chung, để tránh xáo trộn cuộc sống của các cháu cần tiếp tục để bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung. Về cấp dưỡng, ông E không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung do bà C không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về án phí: Bà C có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 19; Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân và gia đình:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim C. Bà Huỳnh Thị Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Trường Giang E.
Giấy chứng nhận kết hôn số 157 ngày 29/10/2011 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung và cấp dưỡng:
Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết H, sinh ngày 22/04/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 06/01/2022. Sau khi ly hôn, bà C được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Về cấp dưỡng, ông E không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà C có trách nhiệm nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, được khấu trừ vào 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002154 ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về quyền kháng cáo:
Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trường Giang E được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Huỳnh Thị Kim Chi được ly hôn với ông Nguyễn Trường Giang Em.
