|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/6/2025 V/v: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
Các hội thẩm nhân dân:Ông Đinh Văn Cương
Ông Nguyễn Ngọc Sơn
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 175/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/4/2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1978; địa chỉ: Xóm K, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Nông D, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Nông D xây dựng gia đình với nhau năm 1999 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống; đến ngày 30/3/2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm nhưng đều không được, không khí gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng mệt mỏi, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được và bà cũng không còn tình cảm với ông D, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Nông D.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung N1, sinh ngày 07/4/2001 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 25/01/2010. Hiện nay cháu N1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cháu C cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Nông D:
Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn gia đình, về con chung, tài sản chung và nợ chung như bà Nguyễn Thị N trình bày là đúng.
Nay ông cũng không còn tình cảm với bà N, nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà N. Ông đồng ý giao con chung là Nguyễn Mạnh C cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu C; ông không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung ông xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Nông D. Giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 25/01/2010 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Nông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bị đơn ông Nguyễn Nông D vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Nông D xây dựng gia đình với nhau năm 1999 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 30/3/2011. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà N và ông D là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà N khởi kiện ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng bà N, ông D phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay và không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.
Do quan hệ hôn nhân giữa bà N với ông D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, giải quyết cho bà N và ông D được ly hôn là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Nông D có hai con chung là Nguyễn Trung N1, sinh ngày 07/4/2001 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 25/01/2010. Hiện nay cháu N1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con; ông D cũng đồng ý giao cháu C cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét thấy, kể từ khi bà N, ông D sống ly thân thì bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C và trong quá trình giải quyết vụ án, cháu C cũng có nguyện vọng được ở với mẹ; đồng thời ông D cũng đồng ý giao cháu C cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu C, nên cần giao cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Nông D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của bà Nguyễn Thị N, xử cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Nông D được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 25/01/2010 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Nông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp theo biên lai thu số 0005388 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Ngọc Sơn – Đinh Văn Cương | Phạm Phước Minh Phong |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
- - VKSND H. Lâm Hà;
- - Chi cục THADS H. Lâm Hà;
- - Các đương sự;
- - UBND xã Tân Thanh;
- - Lưu AV – HS
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Phước Minh Phong
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Nguyễn Nông D
