Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-6-2025

Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Huỳnh Sơn Tây.
  • 2/ Bà Võ Thị Hồng Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 488/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ly K, sinh năm 1983. Địa chỉ thường: Xóm B, thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: nhà trọ Nguyễn Văn Đ, đường D, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1982. Địa chỉ thường: Xóm B, thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ hiện nay: nhà trọ Trần Thị L, đường D, tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ly K trình bày:

Ông Nguyễn Ly K và bà Nguyễn Thị Thu V tự nguyên chung sống có đăng ký kêt hôn năm 2007 tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn xảy ra từ năm 2022, ông K và bà V chuyển về thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống, hai vợ chồng đều làm nghề buôn bán tự do, do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng, giữa ông K và bà V không thể nói chuyện được với nhau để giải quyết mâu thuẫn nên ông Ka C đến thành phố T sinh sống, ông K và bà V sống ly thân khoảng 01 năm nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Nguyễn Ly K yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu V.

- Về con chung: trong quá trình chung sống ông K và bà V có 02 con chung tên Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 và Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016. Hai con chung đều có nguyện vọng sinh sống cùng bà V nên ông Nguyễn Ly K đề nghị giao 02 con chung cho bà Nguyễn Thị Thu V nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các con chung sống cùng ông K thì ông K đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng nhưng con chung đều có nguyện vọng sống cùng bà V, hiện nay ông Nguyễn Ly K đang thất nghiệp nên ông K không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Ly K đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoài Bảo T 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông K không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thùy N do cháu N đã lớn và hiện nay đã đi làm có thu nhập.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày:

Về quá trình chung sống và kết hôn, bà Nguyễn Thị Thu V thống nhất ý kiến của ông K. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó chuyển đến phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống. Mâu thuẫn phát sinh từ sau khi sinh con chung tên Nguyễn Thùy N, nguyên nhân do ông K không quan tâm đến gia đình, không chăm lo cho vợ con, thường xuyên đánh bạc về nhà còn đánh đập bà V. Do thương con, muốn có một gia đình trọn vẹn cho con nên bà V cố gắng chịu đựng để cùng nuôi con. Tuy nhiên thời gian gần đây mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung luôn căng thẳng, nên ông K và bà V đã sống ly thân tháng 08/2024 đến nay, hiện nay vợ chồng tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên ông Nguyễn Ly K yêu cầu ly hôn, bà V đồng ý.

- Về con chung: trong quá trình chung sống bà V và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 và Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016. Hiện nay, cháu N và cháu T đang sinh sống cùng bà V tại tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hiện nay bà Nguyễn Thị Thu V làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân hàng tháng của bà V là 15.000.000 đồng nên bà V có khả năng để nuôi con, bà V đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Từ khi hai vợ chồng sống ly thân đến nay, ông K không thăm nom, hỏi thăm con, cũng không cấp dưỡng nuôi con, bà V là người phải chăm lo cho con từ khi hai vợ chồng sống ly thân. Bà Nguyễn Thị Thu V yêu cầu ông Nguyễn Ly K phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung với số tiền 6.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Ly K hiện nay làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân hàng tháng của ông K là 20.000.000 đồng. Do bà V và ông K đã sống ly thân từ lâu nên bà V không có các chứng cứ liên quan đến thu nhập hàng tháng của ông Nguyễn Ly Ka .

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, ông K và bà V có những tài sản chung sau: 01 chiếc xe nhãn hiệu Wase, biển số xe bà V không nhớ, xe do ông Nguyễn Ly K đứng tên chủ sử dụng; quyền sử dụng diện tích đất ngang 05 mét, dài 26 mét, bà V không biết thửa đất nào, tờ bản đồ số bao nhiêu, thửa đất này tọa lạc tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Phần diện tích đất này, bà V và ông K mua ngày 20/10/2009 với gia 5.000.000 đồng.

- Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông K và bà V nợ ông Nguyễn Ngọc H (là cha của ông K) số tiền 50.000.000 đồng; nợ của ông Nguyễn Văn H1 (là anh ruột của bà V) số tiền 50.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị Thu Á (chị ruột của bà V) số tiền 10.000.000 đồng.

Ngày 03/01/2025, bà V đã có đơn yêu cầu giải quyết về nợ chung và tài sản chung. Ngày 19/02/2025, bà V đã nhận được thông báo sửa đổi, bổ sung đơn phản tố của Tòa án nhưng bà V không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu của Tòa án vì bà V chưa thu thập được các tài liệu, chứng cứ liên quan. Hơn nữa, bà V đã có ý kiến tại biên bản làm việc ngày 03/01/2025 và tại các bản tự khai đề ngày 31/12/2024 nên bà V yêu cầu Tòa án căn cứ vào lời trình bày của bà V để giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84, 85, 110, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ly K về việc ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu V; về con chung: đề nghị giao 02 con chung tên Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 và Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016 cho bà Nguyễn Thị Thu V nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: ông Nguyễn Ly K đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoài Bảo T 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thùy N số tiền 2.340.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi; về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Nguyên đơn ông Nguyễn Ly K khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu V, bà V hiện nay đang cư trú tại nhà T, đường D, tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  3. Ông Nguyễn Ly K và bà Nguyễn Thị Thu V tự nguyện chung sống và đăng ký kêt hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi ngày 16/11/2007, là hôn nhân hợp pháp.
  4. Về hôn nhân: quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Nguyễn Ly K và bà Nguyễn Thị Thu V đều thừa nhận vợ chồng có những mâu thuẫn không thể giải quyết được. Ông K cho rằng do kinh tế gặp nhiều khó khăn nên hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Bà V cho rằng ông Ka S không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đánh bạc về nhà còn đánh đập bà V. Xét thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, thủy chung, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhưng hiện nay ông K và bà V có mâu thuẫn và đã sống ly thân, hai bên không còn tình cảm với nhau, hôn nhân giữa ông K và bà V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông K yêu cầu ly hôn, bà V đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  5. Về con chung: Trong quá trình chung sống ông K và bà V có 02 con chung tên Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 và Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016. Cháu Nguyễn Thùy N và cháu Nguyễn Hoài Bảo T đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng muốn sống với bà V, ông K và bà V đều đồng ý giao hai con chung cho bà V nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  6. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu V yêu cầu ông Nguyễn Ly K phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung với số tiền 6.000.000 đồng/một tháng/02 con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà V cho rằng ông Nguyễn Ly K hiện nay làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân hàng tháng của ông K là 20.000.000 đồng nên yêu cầu ông Nguyễn Ly K phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 6.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
    1. Ông K đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoài Bảo T mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, Hội đồng xét xử ghi nhận.
    2. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thùy N số tiền mỗi tháng 3.000.000 đồng, ông Nguyễn Ly K không đồng ý vì cho rằng hiện nay ông K đang thất nghiệp và cháu Nguyễn Thùy N đã đi làm có thu nhập. Xét, theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên” và khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, do đó ông K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thùy N là phù hợp.

      Về mức cấp dưỡng: Xét, theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó tự thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người có nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”, đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Do đó, mức cấp dưỡng bà V yêu cầu ông K cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng là chưa phù hợp. Bởi lẽ, bà V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh thu nhập trung bình mỗi tháng của ông K là bao nhiêu. Biết rằng, tại thời điểm xét xử thì tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng là ông K đang cư trú (thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc vùng I) là 4.680.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc ông K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thùy N 2.340.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

  7. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu V cho rằng trong quá trình chung sống, ông K và bà V có tài sản chung sau: 01 chiếc xe nhãn hiệu Wase, bà V không nhớ biển số xe; quyền sử dụng diện tích đất ngang 05 mét, dài 26 mét, bà V không biết thửa đất nào, tờ bản đồ số bao nhiêu, thửa đất này tọa lạc tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Ông K và bà V có các khoản nợ chung sau: nợ ông Nguyễn Ngọc H (là cha của ông K) số tiền 50.000.000 đồng; nợ của ông Nguyễn Văn H1 (là anh ruột của bà V) số tiền 50.000.000 đồng và nợ bà Nguyễn Thị Thu Á (chị ruột của bà V; số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 03/01/2025, bà V đã có đơn yêu cầu giải quyết về nợ chung và tài sản chung. Ngày 19/02/2025, bà V đã nhận được Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn số 01/TB-TA ngày 06/01/2025 của Tòa án, hết thời hạn thông báo nhưng bà V không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu của Tòa án vì bà V chưa thu thập được các tài liệu, chứng cứ liên quan. Ngày 21/3/2025, Tòa án đã ra Thông báo trả lại đơn phản tố số 91/TB-TA ngày 21/3/2025 của bà V. Xét, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đó Tòa án không có căn cứ để xem xét giải quyết vấn đề về tài sản chung, nợ chung giữa ông K và bà V. Nếu bà V tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì có thể khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
  8. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
  9. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các điều 56, 81, 82, 83, 84, 85, 110, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ly K đối với bà Nguyễn Thị Thu V.
    1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Ly K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu V.
    2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 và Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016 cho bà Nguyễn Thị Thu V chăm sóc, nuôi dưỡng.

      Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    3. Về cấp dưỡng nuôi con:
      • - Ông Nguyễn Ly K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thùy N, sinh ngày 09/9/2008 mỗi tháng 2.340.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
      • - Ông Nguyễn Ly K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 11/02/2016 mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Ly K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004788 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Ly K còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger