|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Kim Thu
2. Bà Mai Thị Lý
- Thư ký ghi biên bản: Bà Nguyễn Thị Kim Vui – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất: không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 396/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1984 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Các đương sự cùng địa chỉ: Tổ I, khu phố S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn xin ly hôn, bà Lê Thị N trình bày:
Bà và ông Trần Văn T qua tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18/9/2013. Thời gian chung sống, ông bà sinh được 03 người con chung gồm: Trần Thị Kim C, sinh ngày 16/01/2005; Trần Minh K, sinh ngày 12/9/2006 và Trần Thị Kim T1, sinh ngày 16/7/2013. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông T chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác, sau đó thường xuyên về nhà kiếm chuyện với vợ con. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục. Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên tên Trần Thị Kim T1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Văn T:
Các văn bản tố tụng của Tòa án đã được thông báo và niêm yết hợp lệ cho ông Trần Văn T theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông T không có mặt tại Toà án và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà N nên không có lời khai của ông T tại Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập 02 lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T kết hôn là do tự nguyện yêu thương và đi đến hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18/9/2013 là đúng quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Do đó, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ nhiều tháng nay.
Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định: Bà N và ông T hiện tại đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi. Toà án đã nhiều lần có thông báo đến các đương sự để tham gia các phiên hoà giải nhưng ông T không có mặt, chứng tỏ ông T cũng không có thiện chí muốn hoà giải đoàn tụ với bà N. Tại phiên toà sơ thẩm, bà N xác định không còn tình cảm với ông T nên mong muốn được chấm dứt mối quan hệ hôn nhân này. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân của ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Văn T.
[3]. Về con chung: Ông bà có 03 con chung, trong đó có 02 con đã trưởng thành, tự lo cho bản thân được. Riêng cháu Trần Thị Kim T1, sinh ngày 16/7/2013 còn trong độ tuổi đi học, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Kim T1. Xét thấy, hiện nay cháu Kim T1 đang sinh sống với mẹ và ở tại địa phương. Phía ông T thường xuyên đi làm xa nhà, nơi ở không ổn định; do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như có xem xét đến nguyện vọng của cháu, HĐXX chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà N.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này vì điều kiện kinh tế thay đổi và để đảm bảo cho cuộc sống của con, bà N có quyền yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con để được Toà án có thẩm quyền xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[4]. Về tài sản chung: Bà N không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về nợ chung: không có.
Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con của bà Lê Thị N.
[6]. Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ các Điều 28, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung:
Giao cho bà Lê Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Thị Kim T1, sinh ngày 16/7/2013 đến khi con tới tuổi trưởng thành.
Trong thời gian bà N nuôi dưỡng con chung, ông T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo biên lai thu số 0001349 ngày 02 tháng 10 năm 2024. Bà N không phải nộp thêm.
Án xử công khai. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – C Phiên Tòa Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
