Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 09/6/2025.

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH – TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hạ Hải Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Xuân Thủy.
  2. Bà Huỳnh Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thông Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên toà số 19/TB-TA, ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Ngọc H, sinh năm 1992;
  2. Bị đơn: Anh Lê Quang V, sinh năm 1985;

Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

(Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt; riêng chị H có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn – chị Lâm Thị Ngọc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Ngọc H và anh Lê Quang V tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, đến năm 2021 làm thủ tục đăng kí kết hôn tại UBND xã G, huyện T. Thời gian đầu cả hai chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, đôi lúc phải dùng vũ lực để giải quyết và sống ly thân từ đó. Hiện tại chị H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh V.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Lâm Thị Ngọc H và anh Lê Quang V có người con chung tên Lê Lâm M, sinh năm 2021 hiện đang ở với anh V và bên nội. Khi ly hôn, chị H đồng ý giao cháu M cho anh V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không tranh chấp quyền nuôi con chung với anh V.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thị Ngọc H không yêu cầu giải quyết.

[2]. Bị đơn – anh Lê Quang V vắng mặt. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án thể hiện hiện tại anh V có thông tin đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn C, xã G, huyện T nhưng thường xuyên đi làm ăn xa, ít sinh sống ở địa phương. Mặc dù đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của chị Lâm Thị Ngọc H và Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh V vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định.

[3]. Những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

- Nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau: Bản sao trích lục kết hôn, giấy khai sinh con chung, căn cước công dân, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản ghi lời khai của đương sự và biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương.

[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:

- Ý kiến về việc tuân theo Pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn – anh Lê Quang V không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Lâm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Quang V; giao người con chung chưa thành niên cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng. Về án phí: Buộc chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt. Trong đó, nguyên đơn – chị Lâm Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án; riêng bị đơn – anh Lê Quang V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

[2.1]. Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – chị Lâm Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Quang V và giải quyết về quyền nuôi con chung khi ly hôn, ngoài ra các đương sự đều không có yêu cầu nào khác. Do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.

[2.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, không cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn có nơi cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn:

[3.1]. Chị Lâm Thị Ngọc H và anh Lê Quang V tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân; vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T vào năm 2021, giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 26/01/2021.

[3.2]. Tuy vắng mặt tại phiên Tòa nhưng theo nội dung lời khai và ý kiến đã trình bày có trong hồ sơ, tại các bút lục số 05, 06, 16, 17 và 18, chị Lâm Thị Ngọc H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Lê Quang V. Bởi vì sau khi kết hôn, quá trình chung sống với nhau chị H và anh V thường nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng. Khi xảy ra mâu thuẫn, chị H và anh V không tự giải quyết hàn gắn mà để mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm; giữa vợ chồng không có sự quan tâm, yêu thương nhau. Chị H hiện nay không còn tình cảm gì với anh V, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị H không mong muốn vợ chồng tiếp tục chung sống mà cương quyết ly hôn. Điều này phù hợp với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H, anh V tại địa phương.

[3.3]. Trong khi đó, quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã thông báo cho anh Lê Quang V biết việc chị Lâm Thị Ngọc H làm đơn yêu cầu ly hôn nhưng anh V không hợp tác, không thực hiện quyền cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Toà án không thể tiến hành hoà giải đoàn tụ được mà phải đưa vụ án ra xét xử công khai.

[3.4]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của chị Lâm Thị Ngọc H và anh Lê Quang V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các tài liệu thu thập có tại hồ sơ xác định trong thời gian chung sống, chị Lâm Thị Ngọc H và anh Lê Quang V có người con chung tên Lê Lâm M, sinh năm 2021 hiện đang ở với anh V. Thể hiện ý kiến về quyền nuôi con chung khi ly hôn, tại các bút lục số 05, 06, 16, 17 và 18; chị H đồng ý giao cháu M cho anh V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy chị H không tranh chấp quyền nuôi con chung với anh V khi ly hôn. Do đó cần tiếp tục giao cháu M cho anh V được nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Các đương sự không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thị Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Buộc chị Lâm Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[7]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho chị Lâm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Quang V; giao người con chung chưa thành niên cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng. Về án phí: Buộc chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  1. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  2. Khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  3. Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Quang V.
  2. Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Giao cho anh Lê Quang V được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung tên Lê Lâm M, sinh năm 2021 cho đến khi thành niên.

Chị Lâm Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Quang V nhưng được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Buộc chị Lâm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0006490 ngày 13/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện;
  • - Các đương sự;
  • - C.C Thi hành án dân sự h. Tánh Linh;
  • - UBND xã Gia Huynh (thay TB);
  • - Lưu VP, án văn, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hạ Hải Hồ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH – TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH – TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger