Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/DSPT

Ngày 11- 4 - 2025

“V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản là

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thuý Mai

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà:

Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc:

Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1985; Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V (có mặt).

Bị đơn: UBND xã T, huyện S; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M, chức vụ Chủ tịch UBND xã; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí C- Công chức Tư pháp xã T (văn bản ủy quyền ngày 06/7/2024) (vắng mặt).

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1940; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn xét xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn xét xử vắng mặt).
  3. Bà Hoàng Thị V1, sinh năm 1948; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện S, Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
  6. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  7. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc ( vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà V1, anh H, anh H1, chị H2 và chị N1: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1942; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:

Trước 1994, ông được Hợp tác xã Y giao 408 m² đất quỹ 1, số thửa 38, tờ bản đồ số 11 tại khu đồi Mỏ C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này (bìa vàng). Thời hạn sử dụng đất đến năm 2020. Năm 1993 - 1994, Hợp tác xã Y vận động các hộ gia đình trong đó có gia đình ông cho Hợp tác xã mượn 408 m² tại khu đất Mỏ C thời hạn mượn đến năm 2013. Mục đích khi mượn đất để giao thầu ngắn hạn cho hộ gia đình khác để lấy tiền làm đường điện. Hết thời hạn mượn đất ông liên hệ với UBND xã T để nhận lại diện tích đất đã cho mượn nhưng lúc này ông biết được phần diện tích đất ông cho Hợp tác xã mượn đã được chuyển mục đích sử dụng đất thành đất lâm nghiệp mà hiện nay hộ ông Hà Đình L1, ông Lung T thôn Y đang trực tiếp quản lý, sử dụng.

Năm 2021, khi có dự án thu hồi đất nhưng hộ gia đình ông không nằm trong danh sách các hộ có đất được nhận đền bù. Ông đã khiếu nại UBND xã T và UBND huyện S được biết đất của ông đã chuyển sang là loại đất lâm nghiệp và không còn là đất của gia đình ông nữa nên không có căn cứ để đền bù cho gia đình ông. Từ năm 2021 đến nay ông liên tục có đơn gửi cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyền lợi cho ông nhưng việc giải quyết không thỏa đáng.

Nay ông V khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc UBND xã T phải trả lại cho gia đình ông diện tích 408 m² đất quỹ một tại khu M.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Lê Chí C trình bày: Tại thời điểm năm 1993- 1995 Hợp tác xã Y đã tiến hành họp các hộ dân tại 02 thôn gồm P và P. Thôn P họp ngày 11/9/1994 và thôn P họp ngày 12/9/1994. Tại cuộc họp của hai thôn, hợp tác xã Y sẽ rút toàn bộ diện tích đất trồng sắn của các hộ ở khu M và Nhà Nứa để tiến hành cho các hộ thuê đất, diện tích lấy ra là 34 mẫu (trong đó có hộ ông V).

Tại thời điểm đó, sau khi hợp tác xã lấy đất thì với trường hợp của gia đình ông V đã làm đơn khiếu nại và được UBND huyện L giải quyết khiếu nại tại văn bản số 28/KL-KT ngày 20/4/1995 với kết luận:” Việc rút 408 m2 tại khu M của gia đình ông V, trong tổng số 34 mẫu tại hai khu vực M và Nhà N2 là phù hợp với tình hình thực tế và đúng quy định. Do vậy yêu cầu của ông V đòi lại đất không được chấp nhận”.

Sau này ông V tiếp tục gửi đơn đề nghị yêu cầu đòi lại đất khu vực M, UBND xã T đã có văn bản số 04 ngày 12/01/2022, báo cáo số 79 ngày 05/8/2022 trả lời rõ nội dung yêu cầu của ông V đòi 408 m2 đất tại khu đồi Mỏ C là không có cơ sở vì đất này đã được nhà nước rút ra trong 34 mẫu chung của khu vực M và Nhà N2. Việc ông V cho rằng đất này ông đã được giao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1992 (bìa vàng), tuy nhiên sau này diện tích đất đã được nhà nước rút ra mục đích giao thầu cho hộ mới đủ điều kiện phát triển kinh tế và lấy kinh phí làm đường điện. Sau khi trúng thầu đất đã được giao thầu cho các chủ hộ mới nên các chủ hộ mới đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, hộ ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới năm 1999 (bìa đỏ) nên sổ tạm giao đất (bìa vàng) năm 1992 của ông V không còn giá trị. Do vậy UBND xã T không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V yêu cầu UBND xã T trả lại cho ông V diện tích đất 408 m2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L2 trình bày: Gia đình bà không có mâu thuẫn và không có quan hệ anh em họ hàng với ông Nguyễn Văn V. Năm 1994 gia đình bà được Hợp tác xã Y giao thầu diện tích rừng 3.300 m² tại khu đồi Mỏ C. Khi được giao thầu đất gia đình bà đã nộp tiền nhưng cụ thể bao nhiêu bà không nhớ vì do ông T đi nộp. Sau khi được nhận đất gia đình bà trồng cây bạch đàn, cây ăn quả, sử dụng đất ổn định, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2024 nhà nước thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất khu vực M của gia đình bà. Nay ông V khởi kiện cho rằng vị trí đất gia đình bà đang sử dụng là đất ông V cho Hợp tác xã Y mượn là không đúng. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông vy vì đất này gia đình bà đã được nhà nước giao hợp pháp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Á trình bày: Ông và ông V không có mâu thuẫn gì với nhau. Năm 1994 gia đình ông được nhà nước giao thầu diện tích đất khoảng 3.000 m² tại khu đồi M, thuộc thôn Y. Sau khi được giao đất gia đình ông thực hiện canh tác trồng cây bạch đàn liên tục cho đến nay. Tại thời điểm khi gia đình ông được nhà nước giao thầu đất, không liên quan đến ông V. Qúa trình sử dụng đất ông thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước. Nay ông V khởi kiện đòi UBND xã T phải trả lại cho ông V 408 m² tại khu đồi Mỏ C, trong đó có thửa đất 166 m² trong đất ông đã được giao thầu. Nay nhà nước đã thu hồi, bồi thường cho gia đình ông. Quan điểm của ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông V. Việc ông V khởi kiện không liên quan đến đất ông đã được nhà nước giao.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị V1, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị N1 là ông Nguyễn Văn V xác nhận như lời ông V đã trình bày ở trên. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V.

Với các nội dung như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39,147, 157,165, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V về việc buộc UBND xã T phải trả lại cho ông V diện tích đất 408 m² (đất quỹ 1) tại khu đồi Mỏ Chim.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, ngày 07 tháng 10 năm 2024 ông Nguyễn Văn V kháng cáo không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39,147, 157,165, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V về việc buộc UBND xã T phải trả lại cho ông V diện tích đất 408 m² (đất quỹ 1) tại khu đồi Mỏ Chim.
  2. Về chi phí tố tụng và án phí: Ông Nguyễn Văn V phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 3.000.000đ (xác nhận đã nộp đủ) và được miễn toàn bộ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo ông Nguyễn Văn V của làm trong hạn luật định được chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của ông V nhận thấy: Năm 1992 gia đình ông Nguyễn Văn V được Hợp tác xã Y chia đất quỹ 1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời, thời hạn sử dụng đất đến năm 2000.

Năm 1994 hợp tác xã Y có tổ chức họp các hộ dân thống nhất điều chỉnh ruộng đất theo Quyết định 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh V về việc giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của nhà nước. Đối với hợp tác xã Y rút ra toàn bộ diện tích đất trồng sắn của 304 hộ dân (trong đó có hộ ông V) ở khu vực đồng M, Nhà Nứa với diện tích 34 mẫu để tiến hành giao lại cho chủ mới. Phương pháp giao hợp tác xã không giao bình quân cho từng hộ, đem khoán hoặc đấu thầu cho những hộ có khả năng, có nhu cầu phát triển kinh tế mục đích chính để trồng cây chống xói mòn xuống diện tích trồng lúa. Đề nghị UBND huyện chuyển thuế từ trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, tạo điều kiện cho các hộ dân nhận thầu đất này của hợp tác xã sản xuất có hiệu quả. Đối tượng là hộ xã viên trong hợp tác xã, không được giao cho hộ xã ngoài hoặc người ngoài hợp tác xã. Thời gian giao 50 năm và thu sản phẩm một lần thống nhất 15.000 đồng/sào lấy tiền làm đường điện thắp sáng đỡ phần đóng góp của nhân dân.

Năm 1995 tiến hành giao đất cho các chủ hộ mới và phải nộp thuế cho nhà nước giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ sẽ bỏ diện tích đất khu vực Mỏ Chim sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới (bìa đỏ). Theo nghị quyết họp của liên chi bộ C1 và 4 ngày 17/9/1994 và nghị quyết họp khu Phú Thượng ngày 11/9/1994 và khu P họp ngày 12/9/1994 đều thống nhất khu đất Mỏ C, Nhà Nứa do đất bạc màu, hiệu quả canh tác thấp một số hộ bỏ không trồng sắn nay chuyển sang giao thầu trồng cây lâu năm cho chủ mới. Tại biên bản xác minh của Thanh tra huyện L ngày 21/02/1998 làm việc với Hợp tác xã Y, thì diện tích đất chia bình quân chung cho các hộ ở hợp tác xã Y là không thiếu. Việc rút đất khu vực M, Nhà N2 được thực hiện theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ làm kinh tế lâu dài đã được họp dân bàn bạc dân chủ và có nghị quyết chi bộ 3,4 và Nghị quyết họp khu P, khu P. Đối với hộ ông V đã được Ban Y đã giao đủ đất cơ bản theo bình quân ruộng đất của Hợp tác xã. Đối với các hộ chủ mới được hợp tác xã giao đất M, Nhà N2 làm đất trồng cây lâu năm lâm nghiệp đã được ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ) đất lâm nghiệp từ năm 2003 - 2004 được quyền sử dụng đến năm 2047.

Quá trình điều chỉnh ruộng đất theo Quyết định 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh V ông V được tham gia họp tại khu và đồng ý biểu quyết nhất trí chủ trương của xã và hợp tác xã nhưng vẫn khiếu nại. UBND huyện L giải quyết khiếu nại tại văn bản số 28/KL-KT ngày 20/4/1995 với kết luận:” Việc rút 408 m2 tại khu M của gia đình ông V, trong tổng số 34 mẫu tại hai khu vực M và Nhà N2 là phù hợp với tình hình thực tế và đúng quy định. Do vậy yêu cầu của ông V đòi lại đất không được chấp nhận”. Đối với vị trí phần diện tích đất ông V xác định là vị trí đất ông cho hợp tác xã Y mượn năm 1994 đến nay xác định đã được giao hợp pháp cho hộ bà L2 và hộ ông Á sử dụng ổn định và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.

Nay ông V khởi kiện đề nghị buộc UBND xã T phải trả cho gia đình ông diện tích 408 m² đất tại khu vực Mỏ C là không có căn cứ, Toà án cấp sơ thẩm đã xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V là có cơ sở do đó kháng cáo của ông V không được chấp nhận.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng:

Về án phí: Ông Nguyễn Văn V là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ là 3.000.000 đồng theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác nhận đã nộp đủ và chi phí.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn V. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DSST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39,147, 157,165, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V về việc buộc UBND xã T phải trả lại cho ông V diện tích đất 408 m² (đất quỹ 1) tại khu đồi Mỏ Chim.
  2. Về chi phí tố tụng và án phí: Ông Nguyễn Văn V phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 3.000.000đ (xác nhận đã nộp đủ) và được miễn toàn bộ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Sông Lô;
  • - TAND huyện Sông Lô;
  • - Chi cục THADS huyện Sông Lô;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/DSPT ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 53/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger