Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/DS-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Phú Mỹ.
  2. Bà Cao Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên toà: bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1955.
  2. Địa chỉ: Số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Tạ Như H, sinh năm: 1968.

    Địa chỉ: Số B Quốc lộ H, Tổ 8, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 05/6/2025).

  3. Bị đơn: Chị Trần Thị M1, sinh năm 1984.
  4. Địa chỉ: Số E, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

    Địa chỉ nơi ở: Nhà không số kế hộ số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Hồ Anh T, sinh năm: 1981.
    2. Địa chỉ: Số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Chị Hồ Thị Tuyết M2, sinh năm: 1984.
    4. Địa chỉ: Số C Bờ Bao T, phường S, quận T, TP ..

    5. Chị Trịnh Nguyễn Bảo U, sinh năm 1986.
    6. Anh Trần Quốc H1, sinh năm: 1981.
    7. Cùng địa chỉ: Số G đường B B, Phường G, Quận H, TP ..

      Cùng nơi ở hiện nay: Số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Người làn chứng: Ông Trần Thanh D, sinh năm: 1973.
  7. Địa chỉ: Số E, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Ông H, chị M1, ông D có mặt tại phiên tòa. Anh T, chị M2, chị U, anh H1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị M là ông Tạ Như H trình bày:

Thửa đất 1404, tờ bản đồ 01 có nguồn gốc trước đây do bà M và chồng bà M là ông Hồ Sĩ T1 nhận chuyển nhượng của ông Châu T2 năm 1989 và cùng sử dụng. Đến năm 1992 ông T1 làm thủ tục kê khai, đến ngày 06/8/1993 UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) thửa đất 1404, tờ bản đồ số 01, diện tích 390m², mục đích sử dụng T cho ông T1. Năm 2001, bà M và ông T1 chuyển nhượng cho bà Lê Thị Xuân L diện tích 17,6m² và Nhà nước thu hồi 30,9m² để làm đường Đ; nên diện tích thửa đất 1404 còn lại là 341,5m².

Năm 2002 thì ông T1 chết, năm 2003 bà M làm thủ tục hưởng thừa kế của ông T1, đến ngày 19/11/2003 UBND thị xã S cấp GCN QSDĐ cho hộ bà Phạm Thị M gồm thửa đất 1404, tờ bản đồ số 01, diện tích 229,2m² và thửa đất 2639, tờ bản đồ số 01, diện tích 17,4m² cùng mục đích sử dụng là đất T. Năm 2008 bà M có chuyển nhượng một phần thửa đất 1404 cho ông Lê Văn H2 diện tích là 24,8m² và chuyển nhượng cho ông Lâm Văn M3 diện tích 48m². Tiếp đó năm 2021 Nhà nước thu hồi 136,4m² của thửa đất 1404. Liền kề với thửa đất 1404 của phía bà M có giáp ranh đất với thửa đất 127, tờ bản đồ số 16 của chị Trần Thị M1. Trước đây, ranh đất hai bên thì chị M1 có trồng 03 cây trụ đá vào khoảng cuối năm 2018 đầu năm 2019; Năm 2020 khi Nhà nước làm đường đã nhổ bỏ 2 trụ đá giáp đường Đ trở vào, còn 01 cây trụ đá cuối đất năm 2020 khi chị M1 xây dựng nhà cũng đã nhổ bỏ trụ đá này.

Khoảng tháng 11 – 12/2020 chị M1 tự ý trồng lại 3 trụ đá và kéo lưới B40 lấn qua thửa đất 1404 của bà M. Bà M có gửi đơn tranh chấp đến U1, thành phố S hòa giải nhưng không thành. Nay bà M yêu cầu xác định ranh giới QSDĐ thửa đất 1404, tờ bản đồ 01 của hộ bà Phạm Thị M với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 16 của chị Trần Thị M1 là đường nối từ mốc 1 đến mốc 5 theo Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (Chi nhánh Văn phòng). Trên cơ sở đó, bà M yêu cầu chị M1 di dời toàn bộ tài sản của chị M1 ra khỏi phần đất đang tranh chấp.

Thời điểm ngày 19/11/2003 UBND thị xã S cấp GCN QSDĐ thửa đất 1404 và thửa đất 2639 cùng tờ bản đồ số 01 cho hộ Phạm Thị M thì trong hộ Phạm Thị Mỹ G có bà M, các con bà M gồm Hồ Anh T, Hồ Thị Tuyết M2 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1937. Bà Nguyễn Thị N không có mối quan hệ gì với gia đình bà M, quê quán bà N ở miền B, nhưng cụ thể ở đâu thì bà M không biết. Do trước đây bà N không có địa chỉ hộ khẩu, nên chồng bà M là ông Hồ Sỹ T3 (đã chết năm 2002) lúc trước công tác tại U1, thị xã S phụ trách lĩnh vực thương binh và xã hội cho bà N nhập hộ khẩu tạm thời vào gia đình bà M để bà N có địa chỉ hộ khẩu, nhưng từ khi bà N nhập vào hộ khẩu gia đình bà M khoảng năm 1998 – 1999, thì bà N không có sinh sống chung với gia đình bà M tại địa chỉ số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp mà bà N sinh sống tại đâu thì bà M không biết. Khi nhập hồ khẩu vào gia đình bà M khoảng 02 tháng sau thì nghe nói bà N vào Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Đ sinh sống do chồng bà N đã chết, bà N không có con. Đến khoảng năm 2011 – 2013 bà M nghe thông tin bà N đã chết. Ngoài ra, bà M không còn biết thông tin gì khác của bà N. Bà M cam kết các thửa đất này không có liên quan gì đến bà Nguyễn Thị N, trong vụ án này bà M cũng chỉ yêu cầu xác định ranh đất thửa đất 1404 của hộ Phạm Thị M với thửa đất 127 của chị M1, mà không có tranh chấp, không yêu cầu gì về việc chia thửa đất 1404, 2639. Hiện bản chính GCN QSDĐ thửa đất 1404 bà M đang giữ.

Bà M cho chị U, anh H1 thuê căn nhà tại số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp của bà M từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện toàn bộ căn nhà này chị U, anh H1 vẫn còn đang thuê và đang sử dụng; Trong quá trình sử dụng, chị U, anh H1 không có cải tạo, đầu tư, sửa chữa gì thêm vào nhà, đất. Bà M không có tranh chấp, không có yêu cầu về việc thuê nhà, đất này.

Ngoài ra, bà M không có yêu cầu gì khác.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Trần Thị M1 trình bày:

Thửa đất số 127, tờ bản đồ số 16 có nguồn gốc là do chị M1 nhận chuyển nhượng của ông Trần Thanh D ngày 23/10/2012, đến ngày 23/11/2012 chị M1 được UBND thị xã S cấp GCN QSDĐ diện tích 26,6m², mục đích sử dụng là đất thổ; đến ngày 12/4/2018 Nhà nước thu hồi 12,1m², nên diện tích đất còn lại 14,5m². Chị M1 không phản đối về việc cấp GCN QSDĐ và việc Nhà nước thu hồi, diện tích còn lại thửa đất 127 là 14,5m².

Liền kề thửa đất 127 của chị M1 là thửa đất 1404 của hộ bà M. Năm 2020 chị M1 xây dựng nhà trên một phần thửa đất 127, còn chừa lại một phần đất trống. Cũng trong năm 2020 bà M xây dựng nhà sau khi chị M1 đã xây dựng nhà của chị M1; lúc xây dựng nhà, bà M xây dựng lấn qua thửa đất 127 của chị M1, nhưng chị M1 nghĩ là hàng xóm nên không có tranh chấp gì với bà M. Trước đây, ranh đất thửa đất 127 của chị M1 với thửa đất 1404 của bà M vào năm 2012 khi chị M1 nhận chuyển nhượng đất của ông D có trồng 02 cây trụ đá ở hai đầu, lúc trồng 02 cây trụ đá này có chị M1, bà M, ông D chứng kiến; hiện 02 cây trụ đá này không còn. Năm 2021 chị M1 trồng lại 3 trụ đá và kéo lưới B40 như hiện nay để xác định ranh đất rõ ràng với bà M; Khi chị M1 trồng 3 cây trụ đá và hàng rào lưới B40 thì có mặt bà M chứng kiến và đồng ý. Thửa đất 127 của chị M1 ngoài việc tiếp giáp với thửa đất 1404 của phía bà M thì phía trước giáp với phần đất thu hồi, phía sau và một cạnh bên giáp với đất bà Nguyễn Thị H3 và đất ông Nguyễn Hồ Thanh T4, ranh đất với bà H3, ông T4 từ khi cấp GCN QSDĐ cho chị M1 đến nay không có thay đổi.

Chị M1 không đồng ý với yêu cầu của bà M, chị M1 yêu cầu xác định ranh giới QSDĐ thửa đất 1404 của hộ bà M với thửa đất số 127 của chị M1 là đường nối các mốc 3-4 theo Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng. Trên cơ sở đó, chị M1 yêu cầu bà M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bà M di dời toàn bộ tài sản của phía bà M ra khỏi phần đất đang tranh chấp. Thửa đất 127 là tài sản riêng của cá nhân chị M1. Hiện bản chính GCN QSDĐ thửa đất 127 chị M1 đang giữ.

Tại phiên tòa chị M1 thay đổi yêu cầu, chị M1 yêu cầu phản tố bổ sung, yêu cầu xác định toàn bộ các phần đất 1,8m² (Hình 3) và 4,6m² (Hình 2) là thuộc thửa đất 127 của chị M1 và chị M1 yêu cầu bà M cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bà M di dời toàn bộ tài sản trên đất, trả cho chị M1 phần đất Hình 2, H.

Ngoài ra, chị M1 không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Thanh T5, chị Hồ Thị Tuyết M2 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:

Thống nhất với ý kiến, yêu cầu của bà Phạm Thị M; ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Nguyễn Bào U, anh Trần Quốc H1 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:

Chị U, anh H1 thuê căn nhà tại số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp của bà M từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện toàn bộ căn nhà này chị U, anh H1 vẫn còn đang thuê và đang sử dụng; Trong quá trình sử dụng, chị U, anh H1 không có cải tạo, đầu tư, sửa chữa gì thêm vào nhà, đất. Chị U, anh H1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án; Trường hợp giao đất, căn nhà số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp cho ai mà những người này yêu cầu di dời đi nơi khác thì chị U, anh H1 tự nguyện di dời, mà không có yêu cầu gì.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến: Về tố tụng, thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về nội dung vụ án, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M, không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Trần Thị M1.

Ranh giới QSDĐ thửa đất số 1404 của hộ bà M với thửa đất 127 của chị M1 là đường nối từ mốc 1 đến mốc 5 theo Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng.

Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Các đương sự trong vụ án tranh chấp với nhau về ranh giới QSDĐ. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Hồ Anh T, chị Hồ Thị Tuyết M2, chị Trịnh Nguyễn Bảo U, anh Trần Quốc H1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

HĐXX nhận thấy:

[2.1] Theo hồ sơ cấp QSDĐ và bị đơn chị M1 thừa nhận, nguồn gốc thửa đất số 127, tờ bản đồ số 16 do chị M1 nhận chuyển nhượng của ông Trần Thanh D ngày 23/10/2012, đến ngày 23/11/2012 chị M1 được UBND thị xã S cấp GCN QSDĐ, diện tích nhận chuyển nhượng của ông D theo hợp đồng và khi cấp GCN QSDĐ là 26,6m², có mục đích sử dụng là đất thổ; đến ngày 12/4/2018 Nhà nước thu hồi 12,1m², nên diện tích đất còn lại là 14,5m². Chị M1 không phản đối về việc cấp GCN QSDĐ thửa đất số 127 ngày 23/11/2012 và việc năm 2018 Nhà nước thu hồi 12,1m² của thửa đất 127, diện tích còn lại là 14,5m². Thửa đất 127 của chị M1 ngoài việc tiếp giáp với thửa đất 1404 của phía bà M thì phía trước giáp với phần đất thu hồi, phía sau và một cạnh bên giáp với đất bà Nguyễn Thị H3 và đất ông Nguyễn Hồ Thanh T4, ranh đất với bà H3, ông T4 từ khi cấp GCN QSDĐ cho chị M1 đến nay không có thay đổi. Phía nguyên đơn là bà M không phản đối những tình tiết này.

Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS, làm chứng cứ để chứng minh trong vụ án.

[2.2] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế và xác minh thu thập chứng cứ, thể hiện thửa đất số 1404 theo GCN QSDĐ còn lại diện tích là 20m², nhưng qua đo đạc thực thế chưa tính phần đất đang tranh chấp 1,8m² (Hình 3) thì thửa đất 1404 diện tích là 4,6m², nếu cộng thêm phần đất Hình 3 vẫn còn giảm nhiều, còn thửa đất 127 cấp cho chị M1 chưa tính phần đất Hình 3 thì diện tích là 16,1m², đã tăng 1,6m². Tuy GCN QSDĐ thửa đất 1404 cấp cho hộ bà M theo hệ thống bản đồ 299 không có đo đạc trước khi cấp; nhưng thửa đất 127 trước khi chị M1 nhận chuyển nhượng là của ông Trần Thanh D có đo đạc thực tế và cấp theo bản đồ lưới tọa độ diện tích là 26,6m², khi chị M1 nhận chuyển nhượng từ ông D và được cấp GCN QSDĐ thì diện tích vẫn là 26,6m², Nhà nước thu hồi 12,1m² của thửa đất 127 cũng có tiến hành đo đạc, diện tích còn lại 14,5m², nay chưa tính phần đất đang tranh chấp đã tăng 1,6m². Thửa đất 127 của chị M1 phía trước giáp với phần đất thu hồi (theo ranh đất thu hồi), phía sau và một cạnh bên giáp với đất bà Nguyễn Thị H3 và đất ông Nguyễn Hồ Thanh T4, chị M1 thừa nhận ranh đất với bà H3, ông T4 từ khi cấp GCN QSDĐ cho chị M1 đến nay không có thay đổi. Thửa đất 127 qua đo đạc thực tế hiện nay chưa tính diện tích tranh chấp Hình 3 đã tăng 1,6m². Người làm chứng ông D trình bày cơ bản như phần trình bày của chị M1, ngoài lời trình bày thì ông D không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà M, không đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị M1. Ranh giới QSDĐ giữa thửa đất số 1404 hộ bà Phạm Thị M với thửa đất số 127 chị Trần Thị M1 là đường nối từ mốc 1 đến mốc 5 theo Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng.

[3] Tại phiên tòa bị đơn chị M1 có yêu cầu phản tố bổ sung, yêu cầu xác định thêm diện tích đất 4,6m² (Hình 2) là thuộc thửa đất 127 của chị M1 và yêu cầu bà M cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bà M di dời toàn bộ tài sản trên đất, trả cho chị M1 phần đất Hình 2. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, thì chị M1 chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố bổ sung trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, yêu cầu bổ sung của chị M1 không được xem xét.

[4] Thời điểm ngày 19/11/2003 UBND thị xã S cấp GCN QSDĐ thửa đất 1404 cho hộ Phạm Thị M thì trong hộ Phạm Thị M còn có bà Nguyễn Thị N. Tuy nhiên các đương sự trong vụ án không biết bà N đang ở đâu và trong vụ án này các đương sự chỉ yêu cầu xác định ranh đất mà không có tranh chấp, không yêu cầu gì về việc chia thửa đất 1404. Cũng không có tranh chấp gì về hợp đồng thuê nhà số C Đ, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp giữa bà M với chị U, anh H1. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết, thống nhất không đưa bà Nguyễn Thị N tham gia tố tụng trong vụ án.

[5] Từ những phân tích trên, HĐXX thống nhất với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu xác định ranh giới QSDĐ của bà M, nên chị M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.

[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do chấp nhận yêu cầu của bà M, nên chị M1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.428.050 đồng. Do bà M đã nộp tam ứng toàn bộ, nên chị M1 phải nộp 8.428.050 đồng để hoàn trả cho bà M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 200, 227, 228, 235, 264, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 26, 236 của Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ các Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Trần Thị M1.
  2. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 1404, tờ bản đồ 01 hộ bà Phạm Thị M đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 16 chị Trần Thị M1 đứng tên quyền sử dụng đất (đất tọa lạc tại Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp) là đường nối từ mốc 1 đến mốc 5 theo Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
  3. Ranh đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất. Tài sản bên nào lấn chiếm ranh đất phải được di dời theo quy định pháp luật.

    (Có Sơ đồ đo đạc tranh chấp xác nhận ngày 28/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).

    Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định pháp luật.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  5. Bà Phạm Thị M được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm, do bà M là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.

    Chị Trần Thị M1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M1 đã nộp 750.000 đồng, theo biên lai thu số 0008220 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ chị M1 được nhận lại 450.000 đồng.

  6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
  7. Chị Trần Thị M1 phải nộp số tiền 8.428.050 đồng để hoàn trả cho bà Phạm Thị M.

  8. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  9. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Minh Thìn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 53/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà M tranh chấp quyền sử dụng đất với chị M1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger