Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 53/2025/DS-PT

Ngày 28 tháng 3 năm 2025

V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Hoàng Ngọc Sơn

- Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLPT-DS ngày 05/02/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DSST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ngô Hữu C, sinh năm 1961. Có mặt;

Địa chỉ: Số C, T, phường T, thành phố T, Bắc Ninh;

Bị đơn:Ông Đào Xuân C1, sinh năm 1970. Có mặt;

Bà Trần Thu H, sinh năm 1977. Có mặt;

Địa chỉ: Số H phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh;

Do có kháng cáo của bị đơn là bà Trần Thu H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

* Nguyên đơn ông Ngô Hữu C trình bày: Do quen biết nên ông nhiều lần cho ông C1, bà H vay tiền. Ngày 05/10/2019, hai bên chốt nợ thì vợ chồng ông C1 vay của ông tổng cộng là 1.200.000.000 đồng. Ông C1 là người ký tên trong giấy vay tiền, mục đích vay để kinh doanh, thời hạn vay các bên thỏa thuận khi nào ông cần thì báo trước 07 ngày. Quá trình vay, vợ chồng ông C1 đã trả được 420.000.000 đồng, cụ thể:

  • - Ngày 28/12/2022: Trả 200.000.000 đồng;
  • - Ngày 10/8/2023: Trả 100.000.000 đồng;
  • - Ngày 07/02/2024: Trả 120.000.000 đồng.

Những lần trả tiền trên, ông đều nhất trí trả vào tiền gốc. Nay ông khởi kiện yêu cầu: Ông C1 và bà H trả 780.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi (tính trên số tiền gốc chưa thanh toán theo từng đợt thanh toán) đến ngày 12/9/2024 là 670.000.000 đồng, tổng cộng là 1.450.000.000 đồng.

*Bị đơn ông Đào Xuân C1 trình bày: Ông có ký giấy nhận nợ với ông C số tiền gốc là 1,2 tỷ. Nhưng đã trả nhiều lần tổng cộng là 1.095.000.000 đồng. Những lần trả tiền đều do bà H đi trả cho ông C, nguồn tiền trả nợ lấy từ việc kinh doanh của gia đình. Ông không biết giữa ông C và bà H đã trừ bao nhiêu vào gốc, bao nhiêu vào lãi. Toàn bộ số tiền 1.095.000.000 đồng bà H đã trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh.

Ông đồng ý với lời trình bày của ông C về nội dung: Ông C1, bà H đã trả được 420.000.000 đồng gốc, số nợ gốc còn là 780.000.000 đồng và tiền lãi theo ông C là 670.000.000 đồng tiền lãi. Ông C1 xác định đây là số nợ chung của ông C1, bà H. Cả hai vợ chồng cùng có nghĩa vụ trả nợ.

*Bị đơn bà Trần Thu H trình bày: Khoảng năm 2019, ông C1 và ông C rủ nhau góp vốn để cùng đầu tư kinh doanh cát sỏi ở V, Bắc Giang. Nhưng chỉ một thời gian sau, ông C không muốn hợp tác và muốn rút vốn. Ông C1 sử dụng phần vốn của ông C nên hai bên thỏa thuận ghi thành giấy nợ có nội dung: Ông C1 vay ông C số tiền 1,2 tỉ đồng. Chữ ký trong giấy nhận nợ là của ông C1.

Trong giấy nhận nợ có ghi tên bà, nhưng bà không tham gia vào việc hợp tác kinh doanh của ông C và ông C1. Sau khi ký giấy nhận nợ với ông C, cả hai vợ chồng cũng đã nhiều lần trả tiền cho ông C (theo bảng kê ông C1 trình bày, đã nộp cho Tòa án). Có lần ông C1 trả tiền, có lần bà trả. Tổng số tiền ông bà đã trả ông C là 1.095.000.000 đồng. Nay ông C khởi kiện yêu cầu ông bà thanh toán khoản vay thì bà không đồng ý, vì:

  • Vợ chồng nhiều lần ly thân, bà không biết về giấy nhận nợ giữa ông C và ông C1. Kinh tế vợ chồng riêng, không liên quan đến nhau. Mặc dù bà nhiều lần đi trả nợ thay cho ông C1 (do sức khỏe của ông C1 rất yếu, thường xuyên phải đi viện).
  • Giấy vay nợ chỉ mình ông C1 ký, việc kinh doanh cát sỏi của ông C1 không thuận lợi, vợ chồng phải bán tài sản để trả nợ.

Với nội dung trên Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đã căn cứ các Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 463, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án; xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Ngô Hữu C:
  2. Buộc ông Đào Xuân C1 và bà Trần Thu H có nghĩa vụ liên đới phải thanh toán cho ông Ngô Hữu C số tiền gốc: 780.000.000đ, tiền lãi là 670.000.000₫, tổng cộng 1.450.000.000đ (Một tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/01/2025, bị đơn bà Trần Thị H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng bà H1 không phải liên đới cùng ông C1 trả nợ cho ông C.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về đường lối giải quyết vụ án, áp dụng Điều 300 BLTTDS đề nghị Hội đồng xét xử: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 430.000.000 đồng; Án phí: Miễn một phần án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thu H trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Tòa án xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Ông Đào Xuân C1 kháng cáo nhưng không nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên không được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 05/10/2019, ông Đào Xuân C1 và ông Ngô Hữu C xác lập “Khế ước vay tiền kiêm giấy nhận nợ” với nội dung: Ông C1 vay của ông Ngô Hữu C, bà Nguyễn Thị P số tiền 1.200.000.000 đồng; mục đích vay: Sử dụng để kinh doanh; không thỏa thuận thời hạn vay và lãi suất. Ông C ký bên mục Người cho vay. Ông C1 ký và viết rõ họ tên trong mục Người vay tiền. Nội dung được ông C và ông C1 thừa nhận nên chứng cứ này không phải chứng minh.

Bà P (người có tên trong Khế ước vay tiền kiêm giấy nhận nợ) không tham gia giao dịch giữa ông C và ông C1. Bà P có bản tự khai không liên quan đến khoản vay và từ chối tham gia tố tụng nên cấp sơ thẩm không đưa bà P tham gia tố tụng là phù hợp.

[2.2] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 780.000.000 đồng, không đòi lãi. Do bị đơn đã trả 350.000.000 đồng nên còn nợ là 430.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận: Bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 430.000.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu đồng).

Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[3] Án phí: Do các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên bà Trần Thu H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn xin giảm án phí dân sự sơ thẩm. Xét thấy, bị đơn đã được UBND phường T xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bản thân ông Đào Xuân C1 bị bệnh nên Hội đồng xét xử giảm một phần án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự; sửa bản án sơ thẩm.

2. Áp dụng: Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 463, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án; xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Hữu C.
  • - Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn như sau: Ông Đào Xuân C1 và bà Trần Thu H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Ngô Hữu C số tiền gốc là 430.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án

3. Án phí: Bà Trần Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0001968 ngày 03/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn.

Giảm một phần án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đào Xuân C1 và bà Trần Thu H. Ông Đào Xuân C1 và bà Trần Thu H phải chịu 10.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tp Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS tp Từ Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/DS-PT ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 53/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Hữu Cường - Đào Xuân Cảnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger