trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 53 /2025/DS-PT

Ngày: 27/6/2025

“Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Dương Mạnh Chiến

bà Nguyễn Thuý Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 27/6/2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 32/2025/QĐPT-DS ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐ-PT ngày 19/5/2025; Thông báo về việc chuyển lịch xét xử số 42/2025/QĐ-PT ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987 và bà Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 1987; Cùng nơi cư trú: tổ B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981; nơi thường trú: tổ G, phường L, thành phố P, Hà Nam; nơi ở hiện tại: tổ D, phường T thành phố P, Hà Nam; ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, Hà Nam. Cùng địa chỉ liên hệ: công ty L1, số A đường T, phường H, thành phố P, Hà Nam. Ông T1 có mặt, bà B vắng mặt.

*Bị đơn: Công ty Cổ phần X ở S; địa chỉ: tầng A, tòa nhà G, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Thanh H1, ông Nguyễn Ngọc P, cùng địa chỉ liên hệ: Tòa nhà A đường Y, phường T, B, Hà Nội; bà Nguyễn Thị T2, địa chỉ: tòa nhà G, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Bà H1, bà T2 có mặt; ông P vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Đ; địa chỉ: tầng A, tòa nhà G, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Hải Y; ông Trần Chính Đức A; Cùng địa chỉ: tầng A, tòa nhà G, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H và bị đơn Công ty cổ phần X ở S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn trình bày quan điểm khởi kiện như sau: Ngày 10/12/2021, ông Nguyễn Ngọc T có ký Thỏa thuận nguyên tắc số 197/2021/HO-197/01/TTNT/HORIZON BAY với Công ty cổ phần X ở S (Công ty S) có nội dung Công ty S cung cấp dịch vụ tư vấn và môi giới, để được tìm hiểu và mua căn nhà số HO-197, diện tích xây dựng 135,48m², tổng diện tích sàn xây dựng là 597,90 m² trên thửa đất có diện tích 167,6m² tại Khu đô thị D, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh do Công ty TNHH Đ (Công ty Đ) làm chủ đầu tư. Tổng giá trị của căn nhà (đã bao gồm VAT) là 15.406.380.952 đồng được nộp thành 05 đợt theo thông báo và hướng dẫn của Công ty S. Thực hiện Thỏa thuận nguyên tắc trên, ngày 10/12/2021, ông T đã chuyển tiền 200.000.000 đồng tiền thiện chí từ tài khoản của mình (số tài khoản 104006796442 tại Ngân hàng C1) đến tài khoản 0141000745202 tại ngân hàng TMCP N của công ty S. Ngày 22/12/2021, vợ chồng ông T, bà H và công ty S tiếp tục ký Bản đăng ký nguyện vọng mua căn nhà nêu trên và Thỏa thuận dịch vụ số 197/2021/HO-197/TTDV/HORIZON BAY. Thực hiện hợp đồng và các thông báo yêu cầu nộp tiền của công ty S, vợ chồng ông T, bà H đã chuyển cho Công ty S tổng số tiền là 3.170.767.983 đồng (Ông T và bà H xác định số tiền đã nộp cho Công ty S là tài sản chung của ông T, bà H trong thời kỳ hôn nhân). Tuy nhiên, hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày hết thời hạn dự kiến bán, căn nhà mà gia đình ông T có nguyện vọng mua chưa đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Ngày 22/12/2023, ông T, bà H đã có văn bản gửi Công ty S yêu cầu chấm dứt thoả thuận dịch vụ và hoàn trả tiền đặt cọc nhưng Công ty S không giải quyết, hoàn trả tiền đặt cọc cho ông T, bà H. Ông T đã nhiều lần có văn bản gửi công ty S và đến làm việc trực tiếp tại công ty yêu cầu chấm dứt thỏa thuận dịch vụ và đề nghị công ty S hoàn lại số tiền đặt cọc.

Do Công ty S đang vi phạm nghiệm trọng nghĩa vụ thực hiện thoả thuận nên ông T, bà H khởi kiện yêu cầu:

  1. Tuyên chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ số 197/2021/HO-197/01/TTNT/HORIZON BAY ngày 22/12/2021 giữa Công ty cổ phần X ở S và ông bà Nguyễn Ngọc T và Bùi Thị Ngọc H.
  2. Buộc Công ty S phải trả lại cho ông T, bà H tiền đặt cọc đã nhận với số tiền 3.170.767.983 đồng (Ba tỷ một trăm bảy mươi triệu bảy trăm sáu bảy ngàn chín trăm tám ba đồng).
  3. Buộc Công ty S phải trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận với lãi suất bằng 150% lãi suất tiền gửi đồng Việt Nam, có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau, áp dụng cho tổ chức, do Ngân hàng N (V), chi nhánh Q công bố (lãi suất tạm tính 4,6%/năm), thời gian tính lãi được tính từ ngày liền sau ngày tiền đặt cọc thiện chí được ghi có lần cuối vào tài khoản ngân hàng của bên A, tạm tính từ ngày 31/3/2022 đến ngày 23/01/2025 là 33 tháng 23 ngày. Cụ thể: Tiền lãi = Số tiền đã đặt cọc thiện chí x 150% x 4,6%/12 tháng x 33 tháng 28 ngày = (3.170.767.983₫ x 150% x 4,6%/12 tháng x 33 tháng) + (3.170.767.983₫ x 150% x 4,6%/12 tháng/30 ngày x 23 ngày) = 601.653.225đ + 13.977.802đ = 615.631.027₫ (sáu trăm mười lăm triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng). Tổng cộng số tiền phải trả tạm tính là 3.786.399.010 đồng

Bị đơn có quan điểm: Công ty S xác nhận việc ký kết Thỏa thuận nguyên tắc và Thỏa thuận dịch vụ giữa Công ty S và ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H như nguyên đơn đã trình bày là đúng sự thật. Ông T, bà H đã đặt cọc thiện chí là: 3.159.991.958 đồng và nộp tiền lãi chậm thanh toán là: 10.776.025 đồng. Quá trình thực hiện thỏa thuận dịch vụ, do có sự thay đổi quy định pháp luật (về thủ tục và thẩm quyền phê duyệt dự án – là sự kiện bất khả kháng, xảy ra một cách khách quan nằm ngoài dự liệu ban đầu của các bên, tác động trực tiếp vào quá trình triển khai các công việc của dự án) và công ty cũng đã thông báo để nguyên đơn thấu hiểu, chia sẻ cùng bị đơn và Chủ đầu tư.

Công ty S không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ điểm c khoản 2.1 Điều 2 của Thỏa thuận dịch vụ thì ngày ông T, bà H được quyền thông báo đơn phương chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ bằng cách gửi thông báo trong vòng 3 ngày là từ ngày 23/12/2023 đến hết ngày 25/12/2023. Tuy nhiên, trong thời gian này, Công ty không nhận được bất kì thông báo chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ nào từ ông T, bà H. Do đó, Công ty S được áp dụng quy định tại khoản 2c, Điều 2 Thỏa thuận dịch vụ yêu cầu ông T, bà H phải tiếp tục thực hiện Thỏa thuận dịch vụ đã ký kết. Ngoài ra việc ông T, bà H yêu cầu thanh toán số tiền đã nộp là

3.170.767.983 đồng là không đúng. Công ty xác nhận ông Tú bà H2 đã đóng tiền đặt cọc thiện chí số tiền 3.159.991.958 đồng. Số tiền 10.776.025 đồng là tiền ông T, bà H2 đóng do chậm thanh toán theo tiến độ của Thỏa thuận dịch vụ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Công ty TNHH Đ có quan điểm: Công ty TNHH Đ (viết tắt là Đ) hiện đang thực hiện các thủ tục đầu tư Dự án khu nhà ở phía T, khu đô thị D, phường H, thành phố H (dự án H). Đ đã đồng ý, chỉ định cho Công ty S làm đơn vị tư vấn, khảo sát và nghiên cứu, đánh giá nhu cầu thực tế mua sản phẩm là các căn nhà thuộc dự án. Đồng thời Công ty S1 cũng được chỉ định làm đơn vị tổ chức tiếp thị và môi giới bán các căn nhà thuộc dự án khi BIM Hạ Long đủ điều kiện mở bán theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên do các nguyên nhân khách quan tác động như ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19 và sự thay đổi chính sách pháp luật về đầu tư đã làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai ký kết hợp đồng mua bán của Dự án Horizon Bay và nằm ngoài tầm kiểm soát của BIM H. Đ không thực hiện giao dịch, ký kết hợp đồng, không thu bất kỳ khoản tiền nào hoặc thực hiện bất kỳ thỏa thuận nào đối với ông T, bà H2. BIM Hạ L cũng không nhận tiền của Công ty S liên quan đến số tiền ông T, bà H2 đã nộp cho Công ty S.

Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TAND của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, đã tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H:
    • - Chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ số 197/2021/HO-197/01/TTNT/HORIZON BAY ngày 22/12/2021 giữa Công ty Cổ phần X ở S và ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H.
    • - Buộc Công ty Cổ phần X ở S phải trả lại cho ông T, bà H tổng số tiền là: 3.378.031.403đ (ba tỷ, ba trăm bảy mươi tám triệu, không trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Tiền đặt cọc thiện chí ông T, bà H đã nộp là 3.159.991.958đ (ba tỷ, một trăm năm mươi chín triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi tám đồng); tiền phạt và bồi thường thiệt hại là 218.039.445đ (hai trăm mười tám triệu, không trăm ba mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H về việc buộc Công ty Cổ phần X ở S phải trả số tiền 408.367.607₫ (bốn trăm lẻ tám triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, sáu trăm lẻ bảy đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/02/2025, Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị sửa 1 phần bản án về việc yêu cầu công ty X ở S trả cho nguyên đơn số tiền 3.170.767.983đ mà nguyên đơn đã nộp cho công ty và yêu cầu Công ty Cổ phần X ở S phải trả tổng số tiền lãi và tiền bồi thường cho nguyên đơn là 615.631.027đ.

Ngày 06/02/2025 và ngày 19/02/2025 bị đơn Công ty Cổ phần X ở S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đến thời điểm ngày 04/6/2025 thì Đ đã có quyết định chấp nhận chủ trương đầu tư, dự kiến trong tháng 8 và tháng 9 tới sẽ ký kết được hợp đồng mua bán căn hộ và đề nghị bị đơn xem xét tiếp tục thực hiện thoả thuận dịch vụ.

Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án và các Thẩm phán tham gia phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung vụ án và nội dung kháng cáo, xét thấy:

[2.1] Ngày 10/12/2021 ông Nguyễn Ngọc T và Công ty S ký Thoả thuận nguyên tắc số 197/2021/HO-197/01/TTNT/HORIZON BAY về việc Công ty S được chỉ định là đơn vị tư vấn, khảo sát nhu cầu thực tế mua sản phẩm và môi giới bán nhà; ông T, bà H là khách hàng có nhu cầu được giới thiệu tư vấn để chọn mua căn nhà số H-197 thuộc Dự án Horizon Bay do Công ty TNHH Đ (BIM) làm chủ đầu tư với giá 15.406.380.952đ. Ngày 22/12/2021 ông T và Công ty S ký Thoả thuận dịch vụ số 197/2021/HO-197/01/TTDV/HORIZON BAY thay thế cho thỏa thuận nguyên tắc đã ký trước đó, theo đó Công ty S cung cấp cho ông T dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản để được tìm hiểu và mua Căn Nhà thuộc Dự Án, đồng thời cụ thể hoá

tiến độ, thời hạn mà ông T thực hiện việc đóng tiền Đặt Cọc Thiện Chí và quyền, nghĩa vụ của các bên, cam kết trách nhiệm, cách thức xử lý khi xảy ra vi phạm.

[2.2] Về thực hiện nội dung giao kết: ngày 10/12/2021 vợ chồng ông T đã chuyển 200.000.000đ tiền cọc thiện chí; ngày 21/12/2021, ông T đã chuyển tổng số tiền 1.340.638.095đ vào tài khoản của Công ty S thông qua Ngân hàng TMCP C1. Tổng số tiền vợ chồng ông T thanh toán tiền đợt 1 là 1.540.638.095đ. Tiếp theo đến ngày 31/03/2023, ông T đã thanh toán tổng số tiền của đợt 2 là 1.630.129.888đ vào tài khoản của Công ty S thông qua Ngân hàng TMCP N. Công ty S xác nhận đã nhận tổng số tiền là 3.170.767.983 đ của 02 đợt theo thỏa thuận đã ký như trình bày của nguyên đơn là đúng, tuy nhiên xác định tổng số tiền ông Tú bà H2 đóng theo tiến độ của 02 đợt là 3.081.276.190đ, còn lại là 10.776.025đ tiền phạt do ông bà nộp tiền chậm đợt 2 và 78.715.768đ là tiền ông Tú bà H2 nộp thừa.

Theo quy định tại khoản 2.1 Điều 2 của Thoả thuận dịch vụ, Công ty S cam kết: “Cung cấp thông tin về dự án, tiến độ ... phối hợp với Chủ Đầu Tư thực hiện các công việc và thủ tục cần thiết nhằm bảo đảm Căn Nhà đủ điều kiện bán theo tiến độ dự kiến trong vòng 12 tháng, kể từ ngày ký Thoả thuận dịch vụ này ...”. Và “điều kiện trường hợp quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn dự kiến bán hàng mà căn nhà bên B đăng ký nguyện vọng chưa đủ điều kiện bán thì bên B có quyền đơn phương chấm dứt thỏa thuận dịch vụ này”.

Ngày ký thỏa thuận dịch vụ là ngày 22/12/2021, như vậy trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký thỏa thuận thì căn nhà ông Tú bà H2 đăng ký mua phải được thực hiện các thủ tục tiếp theo. Để thực hiện đúng thỏa thuận thì Công ty S phải gửi thông tin về dự án và việc tiến độ thực hiện dự án như đã thỏa thuận, đồng thời phải có trách nhiệm thông báo cho ông Tú bà H2 biết để ký hợp đồng mua bán Căn Nhà với C đầu tư. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại căn nhà HO-197 Dự án Horizon Bay vẫn chưa đủ điều kiện để mở bán theo quy định của pháp luật, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ cam kết, mặc dù ông Tú bà H2 đã nhiều lần phản hồi nhưng vẫn không được ký hợp đồng mua bán căn nhà HO-197 với chủ đầu tư của dự án là vi phạm quy định tại Điều 278 Bộ luật dân sự.

Công ty S cho rằng căn hộ HO-197 chưa đủ điều kiện mở bán là do có sự thay đổi quy định pháp luật về thủ tục và cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án do dự án nằm trong khu vực bảo vệ của di tích danh thắng quốc gia, cũng như ảnh hưởng của đại dịch Covid đến giai đoạn đầu của dự án, suy thoái kinh tế sau đại dịch...nên Công ty S cũng chịu hậu quả gián tiếp dẫn đến việc không thể thực hiện đúng thoả thuận với nguyên đơn. Tuy nhiên quá trình thực hiện hồ sơ xin chấp thuận dự án đầu tư phía Công ty S cũng như Công ty Đ không cung cấp, hay thông báo thông tin tiến

độ các công việc liên quan đến việc mở bán căn hộ cho ông Tú bà H2 được biết, mà đến ngày 08/11/2023 Công ty S mới có thư ngỏ vv thông tin dự án Horizon Bay H gửi cho ông Tú bà H2 là vi phạm điểm a mục 2.1 Điều 2 của thoả thuận dịch vụ. Do đó các căn cứ bị đơn đưa ra là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu chấm dứt giao dịch dân sự: Theo quy định tại mục i điểm c khoản 2.1 Điều 2 của Thoả thuận dịch vụ, khi thời hạn dự kiến bán nhà kết thúc, mà căn nhà bên B đăng ký mua chưa đủ điều kiện bán thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo cam kết Công ty S phải thực hiện các công việc và thủ tục cần thiết nhằm bảo đảm theo tiến độ dự kiến trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký kết Thỏa thuận dịch vụ này. Như vậy thời hạn quy định theo thỏa thuận là theo tiến độ dự kiến trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký kết, do đã có sự vi phạm về thời hạn mà nguyên đơn không được thông báo hay thỏa thuận lại, nên nguyên đơn đã có yêu cầu chấm dứt hợp đồng. Tại phiên tòa đại diện Công ty S chỉ đưa ra thời gian dự kiến là quý 4/2025 để chủ đầu tư hoàn tất thủ tục cần thiết nhằm bảo đảm căn nhà đủ điều kiện bán theo Thỏa thuận dịch vụ mà hai bên đã ký kết, hiện tại Công ty S đang quản lý sử dụng khoản tiền của ông T và bà H2, nhưng không xác định được thời gian thực hiện theo thỏa thuận là thời gian nào, như vậy đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T và bà H2.

Việc bị đơn viện dẫn điểm c khoản 2.1 Điều 2 của Thỏa thuận dịch vụ cho rằng nguyên đơn chỉ được thông báo chấm dứt hợp đồng trong thời gian 03 ngày từ ngày 23/12/2023 đến hết ngày 25/12/2023, và nếu không thực hiện đúng thời hạn này thì không được chấm dứt hợp đồng, là không phù hợp với bản chất của quyền chấm dứt hợp đồng trong trường hợp có vi phạm nghĩa vụ hoặc mục đích hợp đồng không đạt được theo quy định của pháp luật. Mặt khác, ngày 22/12/2023 ông T, bà H2 đã có văn bản gửi Công ty S yêu cầu chấm dứt Thoả thuận dịch vụ và hoàn trả tiền đặt cọc, công ty xác nhận đã nhận được văn bản này, như vậy đã thể hiện ý chí chấm dứt hợp đồng là rõ ràng, công khai. Việc văn bản gửi trước một ngày so với thời hạn cho thấy nguyên đơn đã thể hiện thiện chí hợp tác, không có hành vi vi phạm hoặc chậm trễ gây thiệt hại cho bị đơn.Cũng trong ngày 22/12/2023 đại diện Công ty S cũng đã làm việc với ông T ghi nhận ý kiến của ông T về việc chấm dứt thỏa thuận dịch vụ và yêu cầu hoàn trả tiền đặt cọc. Như vậy Công ty S đã biết được ý chí của ông T, bà H2 muốn chấm dứt thực hiện Thỏa thuận dịch vụ. Việc sau khi tiếp nhận yêu cầu chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ, công ty không có phản hồi, trả lời cho khách hàng là không thực hiện hết trách nhiệm của công ty đối với khách hàng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xác định việc nguyên đơn yêu cầu chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ là phù hợp với quy định tại Điều 428 Bộ luật

Dân sự năm 2015, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong giao dịch dân sự, và yêu cầu này là có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Xét yêu cầu buộc Công ty S phải hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận:

Căn cứ trên Sao kê chi tiết giao dịch do nguyên đơn nộp và Giấy xác nhận thanh toán của Công ty S thì các bên đều xác nhận ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H đã thực hiện thanh toán tiền đặt cọc đến Đợt 2 theo Thỏa thuận dịch vụ và tổng số tiền ông T, bà H đã nộp cho Công ty S là 3.170.767.983 đồng. Trong đó tổng số tiền ông Tú bà H2 đóng theo tiến độ của 02 đợt là 3.081.276.190đ, còn lại là 10.776.025đ tiền phạt do ông bà nộp tiền chậm đợt 2 và 78.715.768đ là tiền ông Tú bà H2 nộp thừa.

Theo quy định tại khoản 3.2 Điều 3 Thỏa thuận dịch vụ thì thời hạn thanh toán tiền đặt cọc Đợt 2 là ngày 19/02/2022 tuy nhiên đến ngày 31/3/2022 ông T, bà H2 mới thanh toán tiền đặt cọc Đợt 2 là đã chậm nộp tiền 40 ngày, vi phạm thời hạn theo hợp đồng. Căn cứ Công văn số 120/VCB-QNI-KT ngày 22/01/2025 của Ngân hàng TMCP N - chi nhánh Q thì lãi suất tại thời điểm từ ngày 19/02/2022 đến ngày 31/3/2022 là 4,6%. Như vậy số tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán tiền đặt cọc Đợt 2 của ông T, bà H2 là 10.776.025 đồng như Công ty S đã trình bày là có căn cứ. Theo quy định tại mục (i) điểm c khoản 2.1 Điều 2 của Thỏa thuận dịch vụ và quy định tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự thì khi Thỏa thuận dịch vụ bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm bao gồm cả vi phạm thời hạn thanh toán của bên sử dụng dịch vụ.

Do đó chỉ có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty S phải hoàn trả cho ông T, bà H2 số tiền đặt cọc thiện chí đã nhận là 3.159.991.958 đồng; không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hoàn trả cả số tiền phạt ông T, bà H2 đã nộp do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 10.776.025 đồng.

[3.4] Về yêu cầu tính tiền phạt: Theo quy định tại mục i điểm c khoản 2.1 Điều 2 của Thoả thuận dịch vụ thì thời điểm tính lãi suất là “tính từ ngày liền sau ngày tiền đặt cọc thiện chí được ghi có lần cuối vào tài khoản ngân hàng của bên A”, tiền đặt cọc thiện chí ghi có lần cuối là ngày 31/3/2022, lãi suất áp dụng để tính lãi từ ngày 01/4/2022. Tại thời điểm xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã tham khảo về lãi suất của V, thì lãi suất cho vay có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau, áp dụng đối với tổ chức từ ngày 01/4/2022 đến thời điểm hiện tại, theo đó thì trong thời gian trên lãi suất đã được điều chỉnh 14 lần với lãi suất cao nhất là 6,2%/năm và lãi suất thấp nhất là 4,1%/năm. Tại phiên tòa các bên đều thống nhất thỏa thuận xác định mức lãi suất

làm cơ sở để tính tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại là 4,6%/năm. Xét thấy mức lãi suất do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật nên cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 4,6%/năm là căn cứ để tính tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại là có căn cứ

Nguyên đơn yêu cầu tính tiền phạt theo thoả thuận 3.170.767.983đ x 150% x 4,6%/12 tháng x 33 tháng và 3.170.767.983đ x 150% x 4,6%/12 tháng/30 ngày x 23 ngày = 601.653.225đ + 13.977.802đ = 615.631.027 đồng và không yêu cầu tính riêng đối với tiền phạt và tiền bồi thưởng thiệt hại.

Xét thấy việc các bên chưa ký kết hợp đồng theo thời gian dự kiến của thỏa thuận một phần do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 từ ngày 31/3/2020 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg là thời điểm đại dịch Covid bùng phát và thực hiện giãn cách xã hội, cho đến ngày 19/10/2023 Bộ Y1 có Quyết định số 3896/QĐ-BYT xác định dịch Covid chỉ còn là dịch bệnh thông thường nên không còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh; ngoài ra theo trình bày của Công ty S cũng như Công ty Đ phải thực hiện lập lại hồ sơ dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt nên chưa thông báo cho khách hàng ký hợp đồng mua bán căn nhà như đã thỏa thuận, chưa thực hiện được như cam kết. Do đó đây cũng là nguyên nhân khách quan bất khả kháng không lường trước thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự nên được xem xét miễn giảm một phần nghĩa vụ, do đó Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận thời gian tính lãi phạt là 12 tháng là phù hợp. Theo đó cấp sơ thẩm tuyên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi 3.159.991.958 đồng x 150% x 4,6%/12 tháng x 12 tháng = 218.039.445 đồng là có căn cứ

[3.5] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Đ chưa thực hiện việc thu tiền của khách hàng, chưa nhận tiền của Công ty S cho việc giao kết hợp đồng mua nhà Dự án. Công ty Đ là chủ đầu tư, không trực tiếp ký kết và tham gia giao dịch với khách hàng trong Thỏa thuận dịch vụ, các đương sự không bên nào có yêu cầu gì đối với Công ty Đ nên không đề cập xem xét.

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn.

[4]. Về án phí phúc thẩm:

Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H và kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần X ở S không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Tuy nhiên cấp sơ thẩm chỉ yêu cầu ông T và bà H liên đới nộp số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000đ là chưa đúng với quy định tại Điều 28 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H và kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần X ở S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 116, 117, 118, 119, 278, 351, 353, 357, khoản 1 Điều 420, 428, 468, 513, 520 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
  2. Chấm dứt Thỏa thuận dịch vụ số 197/2021/HO-197/01/TTNT/HORIZON BAY ngày 22/12/2021 giữa Công ty Cổ phần X ở S và ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H.
  3. Công ty Cổ phần X ở S có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị Ngọc H số tiền 3.378.031.403đ (ba tỷ, ba trăm bảy mươi tám triệu, không trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Tiền đặt cọc thiện chí ông T, bà H đã nộp là 3.159.991.958đ (ba tỷ, một trăm năm mươi chín triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi tám đồng); tiền phạt và bồi thường thiệt hại là 218.039.445₫ (hai trăm mười tám triệu, không trăm ba mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H về việc buộc Công ty Cổ phần X ở S phải trả số tiền 408.367.607₫ (bốn trăm lẻ tám triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, sáu trăm lẻ bảy đồng).
  5. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Công ty Cổ phần X ở S phải chịu 99.861.000đ (chín mươi chín triệu, tám trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (trong đó án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 99.561.000₫).

      Ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H phải liên đới chịu 20.335.000đ (hai mươi triệu, ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 52.448.000đ (năm mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000949 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Trả lại ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H số tiền 32.113.000đ (ba mươi hai triệu một trăm mười ba nghìn đồng).

    2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

      Ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Ngọc H có nghĩa vụ liên đới nộp 600.000đ( sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số 0001690 ngày 18/02/2025 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long. Ông T và bà H còn phải liên đới nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm

      Công ty Cổ phần X ở S phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền đã nộp tại biên lai số 0001712 ngày 20/02/2025 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long. Công ty Cổ phần X ở S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện và cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thành phố Hạ Long;
  • - THADS, VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Tạ Duy Ước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53 /2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 53 /2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ ” tư vấn căn hộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger