|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2025/DS-PT |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Tâm;
Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 703/2024/TLPT-DS, ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 224/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 730/2024/QĐ-PT, ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2025/QĐ-PT, ngày 22 tháng 01 năm 2025; giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Đàm P, sinh năm: 1960. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đàm P: Ông Nguyễn Lâm Q, sinh năm: 1980; Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- - Bị đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm: 1964. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Phan Thị L, sinh năm: 1962. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị L: Ông Nguyễn Lâm Q, sinh năm: 1980; Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- 2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1967. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt có ủy quyền.
-
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1987. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- + Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1988. Địa chỉ: số G, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Bà Phan Thị C là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đàm P và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lâm Q trình bày: Vợ ông Đàm P là bà Phan Thị L với bà Phan Thị C là chị em ruột, bà L là chị của bà C.
Vợ chồng ông P được quyền sử dụng phần đất diện tích 10.984 m² gồm các thửa 444, 458, 468, 469 tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, giáp phía Đông thửa đất 444 của vợ chồng ông P là các thửa đất 435, 455 và 459 thuộc quyền sử dụng của bà C và ông T.
Đất của ông P và đất của bà C đều có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn T2 (anh ruột ông T). Thửa đất 435 bà C được ông Thổ tặng cho đất từ thời gian khoảng năm 1997. Cùng năm 1997, ông P nhận chuyển nhượng đất của ông T2 và trực tiếp quản lý sử dụng ổn định từ đó đến nay. Khi ông P nhận chuyển nhượng đất từ ông T2 thì 02 bên có xác định ranh đất (với thửa đất số 459) nhưng không có cắm trụ.
Năm 2000, ông T2 bán thửa đất 459 cho ông tư N1 (Nịch, đã chết) ngụ ấp P, xã P, lúc này giữa ông P và N có cắm 02 trụ xi măng làm ranh cho đến hiện tại vẫn còn. Sau đó ông N bán lại cho anh T3 ngụ ấp P, xã P thửa đất 459 nói trên. Lúc này này giữa ông N, ông P, anh T3 và ông T 01 lần nữa xác định lại ranh đất giữa thửa đất số 444 và 459 là 02 trụ xi măng mà ông P và ông N1 đã xác định trước đó. Sau đó do anh T3 không có tiền nên bán ngược lại thửa đất 459 cho ông N và ông N bán lại cho vợ chồng bà C. Vợ chồng bà C không có ý kiến gì về 02 trụ xi măng đã được xác định ranh trước đó và sử dụng đất.
Khoảng năm 2005, ông P đắp đất mở rộng đường bờ ranh bên phần đất của ông và trồng 03 cây dừa dọc theo ranh đất. Đầu năm 2023, ông P phá bỏ hàng dừa để xây tường rào làm ranh giữa thửa đất 444 của ông P và các thửa đất 435, 445 và 459 của bà C. Khi ông P xây tại các vị trí giáp các thửa đất số 435 và 445 của bà C khoảng hơn 20 mét thì bà C thống nhất. Nhưng khi ông P xây dựng đến vị trí giáp ranh thửa 459 của bà C thì bà C ngăn cản. Tại vị trí này, bà C buộc ông P phải bỏ ra phần đất có chiều dài 2,5 mét và chiều ngang 10 mét (diện tích này sau khi đo đạc là 19,23 m² nằm trong giấy đất của bà C), bà C trồng 02 cây trụ bằng cây tre yêu cầu ông P phải sử dụng theo vị trí này, ông P không đồng ý nên 02 bên phát sinh tranh chấp.
Sau khi có kết quả đo đạc ông P thay đổi 01 phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, ông P yêu cầu công nhận cho vợ chồng ông được quyền sử dụng các diện tích bao gồm 19,23 m² thuộc thửa đất số 459; 0,49 m² thuộc thửa đất số 445 và 6,4 m² thuộc thửa đất số 435 đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng bà C đứng tên nhưng trên thực tế vợ chồng ông P đang quản lý sử dụng, ông P yêu cầu điều chỉnh giấy đất của vợ chồng bà C chuyển sang giấy đất cho vợ chồng ông P đứng tên cho đúng hiện trạng thực tế đất từ trước đến nay. Đối với các phần diện tích khác qua đo đạc nằm trong giấy đất của ông P nhưng bên bà C đang quản lý sử dụng ông P không tranh chấp.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị C trình bày: Các thửa đất số 435, 445 và 459 vợ chồng bà mua của ông Nguyễn Văn N1 vào năm 2019, tất cả các thửa đất này đều giáp thửa 444 của vợ chồng ông P. Khi vợ chồng bà mua đã có ranh đất rõ ràng giữa các bên là đường bờ, riêng tại vị trí thửa 459 giáp với thửa 444 có 02 trụ xi măng, phần đất tranh chấp năm ngoài 02 trụ xi măng, về phía thửa 444 của ông P nhưng nằm trong giấy đất của vợ chồng bà, 02 trụ xi măng này có sẵn từ trước khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng đất, đến khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng và cho đến nay 02 trụ xi măng này vẫn còn. Từ trước đến nay vợ chồng bà không sử dụng phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, theo bà 0 trụ xi măng này không phải vị trí để xác định ranh đất giữa các bên vì đây chỉ là trụ tạm, quá trình sử dụng đất các trụ này có thể bị di chuyển lệch vị trí ban đầu do có khi đất bị xình lầy, ngập nước nên các trụ không thể giữ nguyên được như vị trí cũ.
Khi ông P xây dựng hàng rào tại các vị trí giáp các thửa đất số 435 và 445 của vợ chồng bà, có lấn qua đất của vợ chồng bà nhưng do vợ chồng bà thấy không đáng kể nên chấp nhận cho ông P xây dựng và thống nhất với ranh đất tại các vị trí của 02 thửa đất này. Khi ông P xây dựng đến vị trí giáp ranh thửa đất số 459 thì bà không đồng ý theo ranh là 02 trụ xi măng đã có từ trước mà ông P xác định, vì vị trí này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà. Bà xác định lại ranh đất bằng 02 trụ tre và yêu cầu ông P sử dụng đúng vị trí này thì ông P không đồng ý và 02 bên phát sinh tranh chấp đến nay.
Vì vậy, bà không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà yêu cầu giải quyết theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà được cấp, vị trí nào vợ chồng ông P xây dựng lấn chiếm ông bà yêu cầu ông P tháo dỡ đi nơi khác để trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 459 và 435, vợ chồng bà đã cung cấp bản chính cho Tòa án (để Tòa án đối chiếu). Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 445, vợ chồng bà đã làm thất lạc nên không thể cung cấp cho Tòa án.
* Người đại diện theo quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Phan Thị L) là ông Nguyễn Lâm Q: Trình bày thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn là ông Đàm P.
* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Văn T) là anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Tiến D: Trình bày thống nhất theo lời trình bày của bị đơn bà Phan Thị C.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 224/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có sửa chữa bổ sung); đã quyết định:
Căn cứ Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2005; các điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 100, 101 và 125 của Luật Đất đai 2013; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đàm P
Công nhận ông Đàm P và bà Phan Thị L được sử dụng các diện tích đất bao gồm:
- Phần đất có diện tích 19,23 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 459, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25-7-2019, số CS07259. Tứ cận: Đông giáp thửa 459 dài 9,66 mét, Tây giáp thửa 444 dài 9,63 mét, Nam giáp thửa 458 dài 2,59 mét, Bắc giáp thửa 445 dài 1,41 mét.
- Phần đất có diện tích 6,4 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 435 tờ bản đồ số 33, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã T) cấp ngày 27-9-2009, số H01895. Tứ cận: Đông giáp thửa 435 dài 5,17 mét + 5,10 mét, Tây giáp thửa 444 dài 5,73 mét + 5,45 mét, Nam giáp thửa 445 dài 0,7 mét, Bắc 00 mét.
- Phần đất có diện tích 0,49 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 445 tờ bản đồ số 33, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã T) cấp ngày 02-7-2007, số H00953. Tứ cận: Đông giáp thửa 445 dài 0,25 mét; Tây giáp thửa 444 dài 0,7 mét; Nam giáp thửa 459 dài 1,41 mét; Bắc giáp thửa 435 dài 0,98 mét.
Các phần đất cùng tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động đất đai như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14-10-2024, bị đơn bà Phan Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định phần diện tích đất 6,4 m² nằm trong thửa đất số 435; diện tích 19,23 m² nằm trong thửa đất số 459 và diện tích 0,49 m² nằm trong thửa đất số 445 đã được nhà nước cấp cho bị đơn; đồng thời buộc nguyên đơn tháo dỡ hàng rào tạm, cột bê tông ra khỏi phần diện tích đất nêu trên, trả lại nguyên hiện trạng đất cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Phan Thị C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị C. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Đàm P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là ông Nguyễn Lâm Q tham gia phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Tiến D. Anh T1 có mặt, anh D vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 10 năm 2024, bị đơn bà Phan Thị C có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của bà C trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Lâm Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn Phan Thị C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị C, thấy rằng:
[3.1] Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp tại cấp sơ thẩm, thể hiện:
- - Phần đất tranh chấp có diện tích 41,24 m² (loại đất LUC) nằm trong các thửa 444, 445, 435, 459, tờ bản đồ 33 (BĐ 2005) tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; giá trị thực tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương là: 200.000 đồng/m² x 40,75 m² = 8.248.000 đồng.
-
Phần diện tích 41,24 m² là diện tích chênh lệch giữa ranh cấp giấy và ranh thực tế. Trong đó bao gồm:
- + Diện tích 19,23 m² thuộc thửa đất số 459;
- + Diện tích 6,40 m² thuộc thửa 435;
- + Diện tích 0,49 m² thuộc thửa đất số 445
- (Các diện tích đất này ông T và bà C được cấp giấy CNQSD đất);
- + Diện tích 15,12 m² thuộc thửa dất số 444 (diện tích này ông P và bà L được cấp giấy CNQSD đất).
- - Tài sản trên đất gồm có: 10 trụ xi măng (cao 2,3 m, đường kính 20 cm) trồng trên đế xây gạch tô cao 01 mét do ông P xây dựng năm 2023: có giá 100.000 đồng/trụ x 10 trụ = 1.000.000 đồng; hàng gạch xây chưa tô cao 45 cm x dài 7,7 mét; làm ranh giới đất do ông P xây dựng năm 2007, thể tích 0,45 m x 7,7 m x 0,1 m x 30%; trị giá 147.713 đồng.
[3.2] Bị đơn bà Phan Thị C kháng cáo cho rằng các phần đất tranh chấp nêu trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị đơn; bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên nguyên đơn yêu cầu công nhận cho nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật và không đúng theo hiện trạng sử dụng đất. Ngoài ra, căn cứ vào kết quả đo đạc thì diện tích đất của nguyên đơn không bị thiếu, mà còn tăng lên rất nhiều. Do đó, bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.3] Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà C thừa nhận đối với diện tích 19,23 m² thuộc 01 phần thửa đất số 459, tờ bản đồ số 33; thì tại vị trí đất tranh chấp có 02 trụ xi măng và từ khi bà nhận chuyển nhượng đất đã có 02 trụ xi măng này và trên thực tế vợ chồng bà C không quản lý sử dụng phần diện tích 19,23 m² đất từ khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng; khi nhận chuyển nhượng đất từ người khác, bà chỉ chuyển nhượng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không kiểm tra, không đo đạc lại và cũng không có xác định tứ cận ranh đất với người chuyển nhượng đất. Trên thực tế, phần diện tích đất tranh chấp 19,23 m² được thể hiện nằm ngoài 02 trụ xi măng, về phía thửa đất số 444 của ông P và do vợ chồng ông P, bà L sử dụng ổn định trước khi bà C, ông T nhận chuyển nhượng cho đến nay.
[3.3.2] Đối với phần diện tích 6,4 m² thuộc 01 phần thửa đất số 435 và phần đất có diện tích 0,49 m² thuộc thửa đất số 445 tờ bản đồ số 33; thể hiện:
Tại 02 vị trí đất này trước đây là đường bờ, khi ông P xây dựng hàng rào trên thửa đất số 444 của ông P giáp ranh với các thửa đất số 435, 445 của vợ chồng bà C thì vợ chồng bà C thống nhất, không có ý kiến. Đến khi ông P xây dựng đến vị trí giáp ranh thửa 459 thì 02 bên mới phát sinh tranh chấp. Như vậy, giữa hai bên đã thống nhất với ranh đất mà ông P xác định và xây dựng chân hàng rào kiên cố trên đất (chưa kéo lưới B 40) tại các thửa số 435, 445.
[3.3.3] Mặt khác, hàng rào ông P xây dựng tại 01 vị trí khác giáp thửa 435 của vợ chồng bà C thì ông P bị mất diện tích 15,12 m² đất của thửa số 444 (nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P) nhưng do nằm về phía đất của vợ chồng bà C, nên ông P không có tranh chấp.
[3.4] Nên có cơ sở xác định lời trình bày của ông P là có căn cứ và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án và phù hợp với quy định của pháp luật; vì ranh đất giữa các bên đã được xác định từ trước; vợ chồng bà C không quản lý sử dụng các phần đất diện tích 19,23 m²; 6,4 m² và 0,49 m² thuộc 01 phần thửa đất số 455, 435 và 445, tờ bản đồ số 33; mà là do ông P sử dụng ổn định lâu dài, liên tục, công khai (cùng với thửa đất số 444 của ông P).
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu của khởi kiện của ông P, công nhận quyền sử dụng các diện tích đất tranh chấp: 19,23 m²; 6,4 m² và 0,49 m² cho vợ chồng ông P được quyền sử dụng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại các Điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Bà C là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà C.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị C
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 224/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2005; các Điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 101 và 125 của Luật Đất đai 2013 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Đàm P đối với bà Phan Thị C.
Công nhận ông Đàm P và bà Phan Thị L được quyền sử dụng các diện tích đất bao gồm:
-
- Phần đất có diện tích 19,23 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 459, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25-7-2019, số CS07259. Tứ cận:
- Đông giáp thửa 459 dài 9,66 mét;
- Tây giáp thửa 444 dài 9,63 mét;
- Nam giáp thửa 458 dài 2,59 mét;
- Bắc giáp thửa 445 dài 1,41 mét.
-
- Phần đất có diện tích 6,4 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 435 tờ bản đồ số 33, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã T) cấp ngày 27-9-2009, số H01895. Tứ cận:
- Đông giáp thửa 435 dài 5,17 mét + 5,10 mét;
- Tây giáp thửa 444 dài 5,73 mét + 5,45 mét;
- Nam giáp thửa 445 dài 0,7 mét;
- Bắc 00 mét (góc tam giác).
-
- Phần đất có diện tích 0,49 m², loại đất LUC, thuộc 01 phần thửa đất số 445 tờ bản đồ số 33, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị C đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã T) cấp ngày 02-7-2007, số H00953. Tứ cận:
- Đông giáp thửa 445 dài 0,25 mét;
- Tây giáp thửa 444 dài 0,7 mét;
- Nam giáp thửa 459 dài 1,41 mét;
- Bắc giáp thửa 435 dài 0,98 mét.
Các phần đất trên cùng tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo)
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến dộng đất đai như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị C và ông Nguyễn Văn T cùng chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Buộc bà C và ông T chịu 33.000.000 (ba mươi ba triệu) đồng. Ghi nhận ông P đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông P được hoàn trả lại số tiền 33.000.000 đồng (do bà C và ông T nộp trả lại).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà C được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 53/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
