Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/DS-PT

Ngày 11 tháng 3 năm 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
  • - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
  • - Các Thẩm phán: bà Phan Thị Minh Tâm và bà Đinh Thị Thu Hằng.
  • - Thư ký phiên tòa: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 383/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 383/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 414/2024/QĐPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bạch H, sinh năm 1963; địa chỉ: khóm T, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích nguyên đơn, ông Lương Tường H1 – Luật sư Đoàn Luật sư A. Địa chỉ: B N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Phước H2, sinh năm 1978, bà Trần Thị Thúy H3, sinh năm 1981; cùng ngụ địa chỉ: khóm T, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2: Ông Nguyễn Nhàn E, sinh năm 1990; địa chỉ: số nhà E, tổ A, khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; văn bản ủy quyền ngày 11/9/2024 được Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang chứng thực, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần Duy H4, sinh năm 1952; địa chỉ: khóm T, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Nguyễn Thị Đ Chị, ông Bùi Minh T, bà Trần Thị Bạch Đ1 do không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo hồ sơ án sơ thẩm:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Bạch H nhiều lần cho ông Trần Duy H4, ông Trần Phước H2 và bà Trần Thị Thúy H3 vay tổng cộng là 800.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần 01: Ngày 05/5/2021 ông H4, ông H2, bà H3 vay bà H số tiền 500.000.000 đồng, việc vay tiền có viết biên nhận, mục đích để làm ăn, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Từ ngày vay đến lúc bà H khởi kiện có đóng lãi được 02 tháng thì ngưng. Khi vay ông Trần Duy H4 là cha ruột của H2 cùng ký tên vào biên nhận, đồng ý giao cho bà H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02569 QSDD/1B, diện tích 6660m² do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 06/12/1994 cho ông H4.

Lần 02: Ngày 21/5/2021 ông H2, bà H3 vay bà H số tiền 200.000.000 đồng.

Lần 03: Ngày 20/6/2021 ông H2, bà H3 vay bà H số tiền 50.000.000 đồng.

Lần 04: Ngày 28/11/2021 ông H2, bà H3 vay bà H số tiền 50.000.000 đồng.

Các khoản vay nêu trên ông H2, bà H3 đều viết biện nhận, duy chỉ biên nhận vay lần đầu ngày 05/5/2021 thì có cả 3 người cùng ký tên; thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng. Từ khi vay, ông H2 bà H3, không trả vốn. Đối với tiền lãi, giữa bà H3 và bà H thống nhất số tiền hụi chết bà H phải chầu lại cho bà H3 để trừ vào tiền lãi là 48.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Đ Chị đưa thay cho bà H3 là 8.000.000 đồng; tiền bà H3 chuyển vào tài khoản cho bà H là 5.000.000 đồng. Tổng cộng bà H nhận số tiền 61.000.000 đồng của bà H3. Bà H đồng ý khấu trừ vào tiền lãi, yêu cầu bà H3, ông H2, ông H4 liên đới có trách nhiệm trả vốn, lãi theo quy định số tiền 500.000.000 đồng và yêu cầu H3, H2 có trách nhiệm trả vốn, lãi suất theo quy định số tiền 300.000.000 đồng.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Nguyễn Nhàn E trình bày: bà H3 và ông H2 thống nhất còn nợ tiền bà H tổng cộng là 800.000.000 đồng, nay đồng ý trả, xin không đóng lãi. Đối với yêu cầu ông buộc ông Trần Duy H4 liên đới trả số tiền 500.000.000 đồng và lãi suất thì không đồng ý, vì cho rằng đây là nợ của ông H2 bà H3, ông H4 không vay tiền của bà H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4 trình bày: Ông có biết việc con ông là H3, H2 cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên đưa cho bà Trần Thị Bạch H làm tin để vay tiền. Nhưng ông xác định không có vay tiền bà H, không có nhận tiền, cũng không biết khoản vay cụ

thể mà bà H và con ông là bao nhiêu. Do đó ông không đồng ý việc bà H yêu cầu ông cùng H2, H3 liên đới trả số tiền vay 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và yêu cầu tính lãi suất; ông yêu cầu bà H trả lại quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số 02569 QSDĐ/1B, thửa đất số 1571, 1574, 1575, 1577, 1592, 1595, tờ bản đồ số 01 diện tích 6660m² do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 06/12/1994 cho ông Trần Duy H4 mà bà H đang giữ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bạch H đối với bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2.

    Buộc bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2 có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Bạch H số tiền vay tổng cộng là 1.191.889.000 (một tỷ, một trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn) đồng. Trong đó: gốc 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng, lãi: 391.889.000 (ba trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn) đồng.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bạch H yêu cầu ông Trần Duy H4 có nghĩa vụ liên đới với bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2 trả cho bà Trần Thị Bạch H số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng; yêu cầu tính lãi suất 20%/năm theo quy định của pháp luật kể từ ngày 28/11/2021 đến khi Tòa án xét xử vụ án.
  3. Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Bạch H và bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2, ông Trần Duy H4 tại “biên nhận ngày 05/5/2021” vô hiệu.

    Buộc bà Trần Thị Bạch H có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Duy H4 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02569 QSDĐ/1B, diện tích 6660m², thửa đất số 1571, 1574, 1575, 1577, 1592, 1595, tờ bản đồ số 01 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 06/12/1994 cho ông Trần Duy H4.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn, bà Trần Thị Bạch H kháng cáo yêu cầu buộc ông Trần Duy H4 có trách nhiệm liên đới cùng Trần Phươc H5, Trần Thị Thúy H3 trả khoản tiền vay 500.000.000 theo biên nhận ngày 05/5/2021 và lãi suất theo quy định.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa bà H với ông H4, làm rõ khoản vay 500.000.000 đồng ngày 05/5/2021 mà ba người cùng ký tên vào biên nhận vay. Tại biên bản làm việc ngày 10/01/2025 tại nhà ông H4, Tòa án ghi nhận nội dung ông H4 trình bày việc vay mượn tiền của bà H theo biên nhận nêu trên nhưng sau đó ông Huỳnh D lý do sức khỏe nên không ký tên vào biên bản làm việc. Tiếp sau đó ông vắng mặt buổi đối chất không lý do.

Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm,

Luật sư bảo vệ quyền lợi nguyên đơn, ông Lương Tường H1 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo buộc ông H4 có trách nhiệm liên đới cùng với ông H5, bà H3 trả tiền vốn lãi theo biên nhận ngày 05/5/2021. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông H4 cùng ông H5, bà H3 có trách nhiệm liên đới trả cho bà H vốn vay và lãi theo quy định đối với khoản tiền 500.000.000 đồng.

Đại diện bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
  • - Về nội dung: Chứng cứ có trong hồ sơ xác định ông H4 ký tên vào biên nhận vay; ông Huỳnh G tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho bà H giữ, đã thể hiện ý chí của ông H4 cam kết cùng với ông H5, bà H3 thực hiện nghĩa vụ trả tiền với bà H. Ông H4 không đòi lại giấy từ lúc giao đến khi bà H khởi kiện; giai đoạn xét xử phúc thẩm không tham gia đối chất để trình bày ý kiến đồng nghĩa với từ bỏ quyền lợi của mình đối với yêu cầu kháng cáo của bà H. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần Thị Bạch H, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, buộc ông Trần Duy H4 có nghĩa vụ liên đới cùng bà Trần Thị Thúy H3, ông Trần Phước H2 trả cho bà H số tiền vay 500.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của luật sư, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bà Trần Thị Bạch H kháng cáo đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4 vắng mặt, dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc ông Trần Duy H4 liên đới trả khoản tiền vay và lãi:

Đối với lần vay 500.000.000 đồng theo biên nhận vay tiền ngày 05/5/2021, bà H trình bày giao tiền tại nhà của ông H4, khi đó có mặt ông H4, ông H2 và bà H3. Ông Huỳnh kiểm Đ2 tiền và cùng ký tên vào biên nhận. Biên nhận vay tiền nêu trên do con của ông H4 là Trần Phước H2 viết có nội dung: “...và có gửi cô 01 giấy đất nông nghiệp 6.660m² do ba con là ông Trần Duy H4 đứng tên để cô làm tin”, có chữ ký và viết tên của ông H4 cùng 2 con H2, H3. Theo nội dung trên đã thể hiện ý chí của ông H4 dùng tài sản là quyền sử dụng đất làm niềm tin đảm bảo khoản vay của bà H. Sau đó có lần ông H4 đến nhà bà H đóng lãi đối với khoản vay trên. Bà H xác định từ lúc vay đến khi khởi kiện, ông H4 không yêu cầu bà giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại đơn kiện cũng như phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bà H xác định cho cha con ông H4 vay tiền nên 3 người cùng ký tên vào biên nhận, đồng thời ông H4 phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà giữ thì bà mới đồng ý cho vay. Vì đây là khoản tiền dạy học bà dành dụm nhiều chục năm tích lũy được. Giai đoạn xét xử phúc thẩm Tòa án tiến hành xác minh, đối chất để làm rõ đối với khoản vay trên. Tại buổi làm việc ông H4 trình bày nội dung, nhưng sau đó ông diện lý do sức khỏe nên không ký tên vào biên bản làm việc. Lần đối chất sau đó ông vắng mặt không lý do. Điều nầy chứng tỏ thái độ không hợp tác, cũng đồng nghĩa với việc ông từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ để phản bác yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Xét thấy, giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng như giai đoạn phúc thẩm, ông H4 và các con là H2, H3 đều xác định việc ông H4 ký tên vào biên nhận; việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo vay tiền hoàn toàn do tự nguyện, không chứng cứ nào thể hiện bị lừa dối hay cưỡng ép. Chính hành động nầy đã tạo niềm tin để bà H giao số tiền 500.000.000đ và các lần tiếp sau đó giao thêm 300.000.000đ cho H2, H3. Xét giao dịch vay mượn tiền giữa nguyên đơn với ông H4, ông H2, bà H3 theo nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận, phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, buộc ông H4 có trách nhiệm liên đới cùng với H3, H2 trả cho bà H số tiền 500.000.000đ, vay ngày 05/5/2021 và lãi suất theo pháp luật.

[3] Về lãi suất: Án sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định mức lãi suất không vượt quá 20%/năm là có căn cứ. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày vay (ngày 28/11/2021) đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) và đồng ý khấu trừ số tiền lãi đã nhận là 61.000.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận khấu trừ số tiền nêu trên vào biên nhận ngày 05/5/2021 là có lợi cho phía bị đơn.

[4] Như vậy, nghĩa vụ thanh toán và cách tính lãi suất cần được tính lại như sau:

  • - Đối với khoản tiền vay ngày 05/5/2021: Tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 28/11/2021 đến ngày 12/9/2024: 500.000.000 đồng x 20%/năm x 1019 ngày = 279.178.000 đồng – 61.000.000 đồng. Như vậy số tiền lãi là:

218.178.000 đồng. Buộc ông H4, ông H2, bà H3 có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền vốn lãi là: 500.000.000đ + 218.178.000đ = 718.178.000 đ.

- Đối với các khoản vay ngày 21/5, 20/6, 28/11 năm 2021, tổng số tiền là 300.000.000đ. Tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 28/11/2021 đến ngày 12/9/2024: 300.000.000₫ x 20%/năm x 1019 ngày = 167.506.000đ. Buộc ông H2, bà H3 có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vốn, lãi là: 300.000.000₫ +167.506.000₫ = 467.506.000₫.

[5] Về án phí: Ông Trần Duy H4 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí. Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bà Trần Thị Bạch H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Bạch H. Sửa Bản án số 135/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Căn cứ các Điều 280, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 35, 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

Buộc ông Trần Duy H4, ông Trần Phước H2, bà Trần Thị Thúy H3 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị Bạch H số tiền 718.178.000 đồng. Trong đó tiền vốn là 500.000.000 đồng, tiền lãi là 218.178.000 đồng.

Ông Trần Phước H2, bà Trần Thị Thúy H3 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Bạch H số tiền 467.506.000 đồng. Trong đó tiền vốn là 300.000.000 đồng, tiền lãi là 167.506.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Các phần quyết định còn lại của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thuận Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Minh Tâm

Đinh Thị Thu Hằng

Lâm Thuận Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 53/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H-H vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger