TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/DS-PT Ngày: 04 - 12 - 2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Phước.
Các Thẩm phán: Bà Lê Hoài Thuỷ; Ông Trần Việt Trung.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2025/TLPT-DS ngày 14/10/2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 63/2025/QĐXXPT-DS ngày 11/11/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 810/TB-TA ngày 19/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân D, sinh năm 1953 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1953; cùng nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
- Bị đơn: Bà Đinh Thị T1, sinh năm 1973 và ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1978; cùng nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T2 tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND xã T, tỉnh Quảng Trị - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T trình bày:
Ông Đinh Xuân D, bà Đinh Thị T có tài sản là các thửa đất số 103, 105 tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất 43/2, thuộc thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị), với diện tích 165.104m² do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) cấp ngày 12/12/2008 cho ông D, bà T. Trong quá trình sử dụng đất, cũng không ai mượn hoặc sử dụng chung với bất kỳ ai, nhưng năm 2016 bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ đã tự tiện phát xẻ trồng keo trên đất của ông D, bà T với diện tích khoảng 9.642,48m². Bà T1 và ông Đ cho rằng thửa đất này là của ông Đ, bà T1 nhưng không có căn cứ, tài liệu nào chứng minh quyền sử dụng đất của ông Đ, bà T1. Để đảm bảo tình làng, nghĩa xóm, ngày 14/3/2024, ông D, bà T có thông báo với trưởng thôn để hòa giải nhưng không thành. Sau đó, Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai nhưng không thành. Sau khi Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất đã lấn chiếm là 12.138,9 m² nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông D và bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 và ông Đ trả lại diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả thẩm định của Toà án là 12.138,9 m² và di dời toàn bộ cây trồng trên đất lấn chiếm để trả lại đất cho ông D, bà T.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ trình bày:
Hai chị em bà T1 và ông Đ có khu đất vườn sản xuất ở khu vực Bản K, do ông bà, cha mẹ để lại cho hai chị em bà T1, ông Đ làm ăn sinh sống từ xưa đến nay, thuộc khu vực đất sản xuất của dân tộc làm ăn sinh sống, không phải là đất rừng bảo vệ của ông D và bà T. Đất rừng là từ 15 độ trở lên và qua một con đường và một con suối, đất bãi biền sạt lở là dân sản xuất làm ăn kinh tế của đồng bào dân tộc từ bao đời nay. Hai chị em bà T1 và ông Đ hằng năm vẫn sản xuất trên vùng đất đó, xã cũng không cấp đất ruộng và đất màu chỗ nào khác. Bà T1, ông Đ cho rằng thửa đất đang tranh chấp do ông, bà của bà T1, ông Đ để lại từ năm 1980, sau đó, ông, bà để lại cho bố của bà T1, ông Đ và khi bố của bà T1, ông Đ qua đời thì để lại cho hai chị em bà T1, ông Đ. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai chị em bà T1, ông Đ cho rằng không lấn chiếm đất của ông D bà T nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 31, Điều 37 Luật Đất đai năm 2024; Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ.
Buộc bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ có nghĩa vụ trả lại cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T diện tích đất lấn chiếm là 12.138,9 m² tại các điểm 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 15, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 45 sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 10/4/2025.
Sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 10/4/2025 là một phần không tách rời của Bản án.
- Giao ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T được quyền sử dụng, quản lý 5.395 cây keo có đường kính Ø ≤ 2cm trên diện tích đất là 12.138,9 m² tại các điểm 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 15, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 45 sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 10/4/2025.
- Ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị 5.395 cây keo cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ với tổng giá trị là 121.387.500 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2025, bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung: Đất tranh chấp là do bố mẹ của bà T1, ông Đ khai hoang trước khi cấp đất rừng, nay bố, mẹ bà T1, ông Đ chết và để lại cho hai chị em bà T1, ông Đ để làm ăn, sinh sống. Tuy nhiên, chính quyền cấp đất cho ông D, bà T là không đúng. Gia đình bà T1, ông Đ chỉ có một mảnh đất hiện đang tranh chấp; ngoài ra không có mảnh đất nào khác, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định tại các Điều 51, 64, 239, 297, 298, 301, 305 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới chứng minh. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị T1, ông Đinh Văn Đ.
Tuy nhiên, về án phí có giá ngạch Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Đối với số tiền mà ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Xlà 121.387.500 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ông D và bà T được hưởng số cây trồng trên đất và phải hoàn trả cho bà T1 và ông Đ một khoản tiền hợp lý là hậu quả pháp lý do hành vi lấn chiếm gây ra, được Tòa án xem xét và xác định trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, phù hợp với nguyên tắc công bằng, thiện chí và không được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật.Căn cứ theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chỉ những trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu về tài sản do đương sự khởi kiện, phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì mới là căn cứ để xác định nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Do khoản tiền nêu trên không phát sinh từ bất kỳ yêu cầu nào của đương sự mà được Tòa án chủ động xác định để xử lý hệ quả pháp lý, nên không phải là căn cứ tính án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là không chính xác,
vì theo quy định điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì: “Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án phải xác định giá trị của tài sản hoặc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo phần thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp vụ án có giá ngạch đối với phần giá trị mà mình được hưởng”.
Vì ông D và bà T được hưởng số cây trồng trên đất và phải hoàn trả cho bà T1 và ông Đ một khoản tiền nên ông D bà T1 phải chịu án án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 121.387.500 đồng là 6.069.000 đồng
Từ những phân tích trên đề nghị:
- Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 308 BLTTDS đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Về án phí có giá ngạch: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 sửa Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 về phần án phí có giá ngạch buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 121.387.500 đồng là 6.069.000 đồng.
- Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi, bị đơn là hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị miễn án phí cho nguyên đơn, bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự thì bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ có quyền kháng cáo và việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ trả lại đất lấn chiếm tọa lạc tại thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) nên xác định là tranh chấp đất đai. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết, xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Nguồn gốc thửa đất số 103, 105 tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất 43/2, thuộc thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) cấp đất lần đầu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R365435 ngày 21/3/2002 cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T với diện tích 179.000 m² (trước đây thuộc thửa 26, 27 tờ bản đồ số K2-TK43, thuộc thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình). Đến ngày 12/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 555607 tại thửa đất số 103, 105 tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất 43/2, thuộc thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) với diện tích 165.104m² cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T.
Bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ cho rằng: Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông bà của bà T1 và ông Đ để lại từ những năm 1980, ông bà của bà T1 và ông Đ tự khai hoang thửa đất, sau đó sử dụng và để lại cho bố của bà T1 và ông Đ. Sau khi bố của bà T1 và ông Đ chết thì để lại cho chị em bà T1 và ông Đ sử dụng. Ngoài ra, bà T1 và ông Đ trình bày, năm 2006-2008, tổ chức ICCO đến vùng bản Kè thực hiện chương trình của dân tộc và phát triển xã L, giúp dân bản Kè phát triển bảo vệ rừng, trồng rừng, cụ thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thẻ đỏ) cho bà con bản Kè, trong đó, có hộ gia đình của bà T1 là chủ hộ và ông Đ là em trai bà T1. Sau đó, dự án cùng với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) tiến hành thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp đổi lại cho bà T1, ông Đ diện tích đất và địa điểm tại vùng đất đang canh tác lâu nay và hiện tại không có tranh chấp gì. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T1 và ông Đ đang ở Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T. Sau khi thu hồi xong và cấp lại thì các gia đình khác đều có nhưng riêng gia đình bà T1 lại bị thất lạc và cấp trên không cấp lại cho gia đình bà T1, ông Đ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh tại Phòng Nông Nghiệp và Môi trường huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) vào ngày 16/6/2025 và tại Phòng Kinh tế, UBND xã T, tỉnh Quảng Trị đã thể hiện: „Hồ sơ lưu trữ không có văn bản hoặc giấy tờ thể hiện Nhà nước giao quyền sử dụng đất tại các thửa 103, 105 tờ bản đồ số 14 tại xã L cho bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ. Tại vị trí đất tranh chấp thuộc thửa đất số 103, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị T và ông Đinh Xuân D. Do đó, không có việc thu hồi và lưu giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T1 và ông Đ. Trước đây, UBND huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) có thu hồi đất của các hộ gia đình đồng bào dân tộc tại Bản Kè để giao cho cộng đồng quản lý và được cấp sổ đỏ rừng cộng đồng, trong đó có hộ gia đình bà Đinh Thị T1, tuy nhiên đất ở vị trí khác, không thuộc khu vực đang tranh chấp”.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm thành lập hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đã thể hiện: Diện tích đất tranh chấp là 12.138,9 m² thuộc thửa đất số 103, tờ bản đồ số 14, do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) cấp cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T. Hiện trạng trên đất tranh chấp có trồng 5.395 cây keo đường kính ≤ 2cm do bà T1 và ông Đ quản lý, trồng cây. Vị trí thửa đất tranh chấp có tứ cận: phía Bắc giáp với thửa đất 97, 103; phía Đông giáp với thửa đất 103; phía Nam giáp với thửa đất 72; phía Tây giáp với thửa đất 72. Hiện nay, trên toàn bộ diện tích đất này do bà T1 và ông Đ sử dụng và trồng cây keo với 5.395 cây keo, trị giá toàn bộ 5.395 cây keo là 121.780.500 đồng; ngoài ra không có tài sản gì khác trên thửa đất tranh chấp.
Như vậy, kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ cho rằng diện tích đất tranh chấp do cha mẹ của bà T1, ông Đ khai hoang trước khi cấp đất rừng, nay bố, mẹ bà T1, ông Đ chết và để lại cho hai chị em bà T1, ông Đ để làm ăn, sinh sống và
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng đất thuộc về bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ. Bản án sơ thẩm buộc bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ trả lại cho ông Đinh Xuân D, bà Đinh Thị T diện tích đất là 12.138,9 m² và giao toàn bộ 5.395 cây trồng trên diện tích đất 12.138,9 m² cho ông D, bà T quản lý, sử dụng, đồng thời ông D, bà T có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị cây đã trồng cho bà T1, ông Đ với số tiền 121.780.500 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ mà chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Quảng Trị.
[4] Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bản án sơ thẩm buộc ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ số tiền trị giá của 5.395 cây keo là 121.387.500 đồng nên ông D, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Toà án cấp sơ thẩm không buộc ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là thiếu sót. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T có đơn xin miễn án phí do đều là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bà T1 và ông Đ cung cấp giấy chứng nhận hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Quảng Trị.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 31, Điều 37 Luật Đất đai năm 2024; Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T.
- - Buộc bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ có nghĩa vụ trả lại cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T diện tích đất lấn chiếm là 12.138,9 m² tại các điểm 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 15, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 45 sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 10/4/2025.
- - Giao ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T được quyền sử dụng, quản lý 5.395 cây keo có đường kính Ø ≤ 2cm trên diện tích đất là 12.138,9 m² tại các điểm 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 15, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 45 sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 10/4/2025.
(Sơ đồ vị trí thửa đất kèm theo Bản án)
- - Ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị 5.395 cây keo cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ với tổng giá trị là 121.387.500 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu ba trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đinh Xuân D và bà Đinh Thị T.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ. Hoàn trả cho bà Đinh Thị T1 và ông Đinh Văn Đ số tiền nộp tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000523 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán | Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa | |
Lê Hoài Thuỷ | Trần Việt Trung | Phan Hồng Phước |
Bản án số 53/2025/DS-PT ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ranh chấp quyền sử dụng đất giữa Đinh Xuân D với Đinh Thị T
