|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/7/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hòa
- Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 616/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QÐST-DS ngày 27/6/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Cao Thị Ngọc V, sinh năm: 1991
Địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm: 1993
Địa chỉ: khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bà V có mặt, ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 11 năm 2023 nguyên đơn là bà Cao Thị Ngọc V và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều trình bày:
Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đại tự tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64/2014, quyển số 01/2014, ngày 14/8/2014.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông Đ không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông Đ đi sớm về trể, làm ra tiền không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, ông Đ thường xuyên có lời nói xúc phạm và hành hung bà V do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên bà V, ông Đ đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà V nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đ có 01 người con chung tên Nguyễn Cao Gia B, sinh ngày 10/8/2011. Hiện nay cháu B đang sống với bà V nên sau khi ly hôn bà V muốn tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đ không có tài sản chung.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đ xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn yêu cầu vắng mặt các buổi hòa giải và xét xử ngày 27 tháng 6 năm 2024 bị đơn ông Nguyễn Quốc Đ trình bày:
Ông Nguyễn Quốc Đ đã nhận được các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên biết rõ bà V làm đơn yêu cầu ly hôn ông Đ và giải quyết việc nuôi con chung nên ông Đ đề nghị Tòa án giải quyết việc vụ án theo quy định pháp luật và làm đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
-
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Cao Thị Ngọc V được ly hôn ông Nguyễn Quốc Đ. Giao người con tên Nguyễn Cao Gia B, sinh ngày 10/8/2011 cho bà Cao Thị Ngọc V trực tiếp nuôi dưỡng, bà V chưa có yêu cầu ông Đ cấp dưỡng tiền nuôi con nên chưa xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà V phải chịu án phí và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Cao Thị Ngọc V yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ có nơi cư trú tại khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Bị đơn là ông Nguyễn Quốc Đ đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đại tự tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64/2014, quyển số 01/2014, ngày 14/8/2014.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông Đ không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông Đ đi sớm về trể, làm ra tiền không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, ông Đ thường xuyên có lời nói xúc phạm và hành hung bà V do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên bà V, ông Đ đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà V nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”.
Khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho ông Đ và bà V trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông Đ xác định không còn tình cảm với bà V nên làm đơn từ chối việc hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt, qua đó đủ cơ sở nhận định tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những lý do trên cho thấy việc bà V làm đơn yêu cầu ly hôn ông Đ là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đ có 01 người con chung tên Nguyễn Cao Gia B, sinh ngày 10/8/2011, hiện nay con đang sống với bà V nên sau khi ly hôn bà V muốn tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét thấy, hiện nay cháu B đang được bà V nuôi dưỡng. Bà V có nơi cư trú, công việc thu nhập ổn định và nếu cần, bà có quyền lợi về mọi mặt đối với cháu. Do đó, việc giao cháu B cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng và ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Cao Thị Ngọc V chưa có yêu cầu ông Nguyễn Quốc Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
Về tài sản chung: Bà Cao Thị Ngọc V và ông Nguyễn Quốc Đ chưa có yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Cao Thị Ngọc V, ông Nguyễn Quốc Đ xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Ý kiến của Kiểm sát viên về trình tự thủ tục cũng như nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà V phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 262, Điều 264 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Ngọc V được ly hôn ông Nguyễn Quốc Đ.
-
Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Cao Gia B, sinh ngày 10/8/2011 cho bà Cao Thị Ngọc V trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Quốc Đ có quyền thăm nom con. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con và ngược lại vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Cao Thị Ngọc V chưa có yêu cầu ông Nguyễn Quốc Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
- Về tài sản chung: Bà Cao Thị Ngọc V, ông Nguyễn Quốc Đ chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Cao Thị Ngọc V, ông Nguyễn Quốc Đ xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
2. Về án phí: Bà Cao Thị Ngọc V phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001025 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/7/2024), bà Cao Thị Ngọc V có quyền kháng cáo. Ông Nguyễn Quốc Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
