|
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
BẢN ÁN SỐ: 53/2024/HS-ST |
NGÀY: 06/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
THÀNH PHẦN HĐXX SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thiều Quang và ông Lê Văn La.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 06/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 15/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST- HS ngày 23/5/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thế H, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay : Tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc M (đã chết); Con bà: Trần Thị T, sinh năm 1970; Gia đình có 2 chị em, bản thân là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956 - (đã chết);
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
3. Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Anh Khiếu Hữu Đ, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
I
2. Bà Khiếu Thị H2, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
3. Ông Khiếu Hữu N, sinh năm 1978;
Địa chỉ: KP3, M, thành phố Phan Rang T, tỉnh Ninh Thuận.
4. Anh Khiếu Hữu Đ, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
5. Chị Khứu Thị T1, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Khiếu Hữu Đ, sinh năm 1980 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1970 – (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyễn Thế H, sinh năm 1995, trú tại: Tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 05/9/2013.
Khoảng hơn 8 giờ ngày 12/02/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 98AA - 076.82 (dung tích xe 149,8cm³) đi từ nhà rồi theo đường tỉnh 295B hướng Quốc lộ A để lên Đền B ở xã H, huyện L chơi. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến gần Km 1 + 330 đường tỉnh 295B thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì nhìn thấy ở phía trước bên phải theo chiều đi có đường nhánh đi vào thôn T, xã T giao với đường tỉnh 295B và phía bên phải đường theo chiều đi của H có đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, nhưng H không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô 98AA - 076.82 đi vào khu vực đường giao nhau với tốc độ khoảng 50km/h. Cùng lúc này, ở phía làn đường bên trái theo chiều đi của H có xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98L5- 9541 do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956 ở thôn T, xã T, huyện L điều khiển đang chuyển hướng sang đường để rẽ vào đường liên thôn T. Khi H điều khiển xe di chuyển vào khu vực đường giao nhau thì cũng là lúc bà H1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng di chuyển cắt ngang phần đường theo hướng đi của H. Do H không chú ý quan sát nên không phát hiện thấy xe mô tô 98L5 - 9541 của bà H1 đang
2
chuyển hướng dẫn đến phần đầu xe mô tô 98AA - 076.82 Hùng va chạm vào thân xe bên phải xe mô tô của bà H1. Hậu quả, bà H1 ngã ra đường chấn thương sọ não và tử vong cùng ngày, H bị thương vỡ xương bánh chè chân trái được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B.
Kết quả khám nghiệm hiện trường;
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại Km 1 + 330 đường tỉnh 295B thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Phía Bắc hiện trường là hướng đi Quốc lộ A; phía Nam là hướng đi thành phố B; phía Đông tiếp giáp đường dân sinh thôn T, xã T; phía Tây tiếp giáp đường liên xã T - M. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải áp phan nhựa phẳng, thẳng, mặt đường rộng 1100cm; giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau chia mặt đường thành hai phần đường cho hai dòng phương tiện ngược chiều nhau; phần đường phía Đông rộng 520cm, trên phần đường có vạch sơn màu trắng liền nét chia làn đường dành cho xe cơ giới rộng 350cm và làn đường dành cho xe thô sơ và xe máy rộng 170cm; phần đường phía Tây rộng 580cm, trên phần đường có vạch sơn màu trắng liền nét chia làn đường dành cho xe cơ giới rộng 350cm và làn đường dành cho xe thô sơ và xe máy rộng 230cm. Phía Bắc hiện trường trên hành lang đường phía Tây và phía Nam hiện trường trên hành lang đường phía Đông có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên.
Xe mô tô, biển kiểm soát: 98L5 - 9541 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng Đông Bắc; tâm trục bánh trước cách mép đường phải 410cm, tâm trục bánh sau cách mép đường phải 345cm. (Ký hiệu số 1).
Xe mô tô, biển kiểm soát: 98AA - 076.82 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng Đông Bắc, tâm trục bánh trước cách mép đường phải 65cm; tâm trục bánh sau cách mép đường phải 20cm, cách điểm mốc về phía Đông Nam 1180cm. (Ký hiệu số 2).
Dấu vết cày xước mặt đường nổi màu trắng đục ngắt quãng không đều nhau, chiều hướng N - B, trên diện kích thước (930x70)cm, vết đơn rộng nhất 1,5cm; đầu vết cách mép đường phải 380cm, cách điểm mốc về phía Đông Nam 630cm; cuối vết kết thúc tại đầu để chân trước bên trái xe (1) cách mép đường phải 380cm. (Ký hiệu số 3).
Dấu vết cày xước mặt đường nổi màu trắng đục ngắt quãng không đều nhau, chiều hướng Tây Nam - Đông Bắc trên diện kích thước (640x36)cm, vết đơn rộng nhất 02cm, đầu vết cách mép đường phải 240cm; cuối vết kết thúc tại đầu để chân trước bên trái xe (2) cách mép đường phải 50cm. (Ký hiệu số 4).
Dấu vết máu màu nâu đỏ đã đông trên mặt đường, trên diện kích thước (120x50)cm; tâm vết cách mép đường phải 295cm, cách tâm trục bánh trước xe (1) về phía Tây Nam 75cm. (Ký hiệu số 5).
3
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy và kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Thế H. Kết quả, H không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô, bển kiểm soát 98L5 – 9541:
Gãy rời cánh yếm phải. Cong gập thanh kim loại cánh yếm bên phải theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, bề mặt có dấu vết mài sát sơn, kim loại chiều hướng từ sau ra trước trên diện kích thước (15x6)cm.
Mặt trước, mặt bên phải lốc máy có dấu vết cày xước, mài trượt kim loại chiều hướng từ phải sang trái, bề mặt bám dính vật chất màu đen kích thước (12x10)cm, tâm vết cách đất 30cm.
Chùn cong phanh chân theo hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Bề mặt bàn phanh chân có dấu vết mài sát kim loại. Góc trước bên trái cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết mài sát sơn, nhựa chiều hướng từ trước về sau kích thước (3x2)cm.
Mặt trước ốp nhựa bên trái chân gương chiếu hậu có dấu vết mài sát nhựa, kích thước (2,5x1)cm. Bề mặt gáo gương và cần gương có dấu vết mài sát nhựa, kim loại kích thước (24x4)cm.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98AA - 076.82;
Hệ thống càng xe bị chùn cong theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải. Mặt lăn lốp xe bánh trước có diện mài sát cao su, bề mặt bám dính vật chất màu xanh dạng sơn, trên diện kích thước (34x11)cm, tâm vết cách chân van theo chiều chuyển động tiến 40cm.
Tại kết luận giám định số 498/KLGĐTT-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H1 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; gãy phức tạp xương cẳng tay, cẳng chân phải.
Tại Kết luận giám định số: 625/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
“ 1. Dấu vết chùn cong, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại vỏ máy bên phải, chân phanh của xe mô tô biển kiểm soát 98L5 - 9541, có chiều hướng từ phải sang trái phù hợp với dấu vết mài sát cao su, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại mặt lăn và má lốp bánh trước của xe gắn máy biển kiểm soát 98AA - 076.82, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh.
2. Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98L5 - 9541 gồm: gương chiếu hậu, ốp nhựa đầu xe, tay nắm, để chân trước, giá thồ hàng phía sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá
4
trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98L5 - 9541 đổ nghiêng trái, rê trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 3.
3. Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AA - 076.82 gồm: gương chiếu hậu, đầu tay nắm, đầu tay phanh, cánh yếm, để chân trước được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe gắn máy biển kiểm soát 98AA - 076.82 đổ nghiêng trái, rê trượt mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 4.
4. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98L5 - 9541 với xe gắn máy biển kiểm soát 98AA - 076.82 trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 3 và số 4, thuộc chiều chuyển động bên phải đường Tỉnh lộ 295B theo hướng thành phố B đi Quốc lộ A.
5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”
- Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 13/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thế H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Nguyễn Thế H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và ân hận về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện cho gia đình bị hại anh Khiếu Hữu Đ đã nhận số tiền bồi thường của bị cáo là 136.000.000 đồng không yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T có mặt tại phiên tòa: Không yêu cầu gì về việc buộc bị cáo phải trả lại số tiền bà đã cùng bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.
5
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo, đại diện bị hại, của người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện cho gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 292 bộ luật Tố tụng Hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Thế H khai nhận:
Khoảng gần 08 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, tại Km 1+330 đường tỉnh 295B thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Thế H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 98AA- 076.82 đi hướng Quốc lộ A không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến địa phận có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên) vi phạm Khoản 23 Điều 8; Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ hiện hành; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G dẫn đến đầu xe mô tô 98AA - 076.82 do H điều khiển va chạm vào bên phải thân xe bên trái xe mô tô, biển kiểm soát 98L5 - 9541 do bà Nguyễn Thị H1 điều khiển đi hướng ngược chiều chuyển hướng sang đường. Hậu quả, bà H1 tử vong.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Thế H khi tham gia giao thông trên đường T hướng Quốc lộ A không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến địa phận có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên) vi phạm Khoản 23 Điều 8; Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ hiện hành; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số
6
31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông.
Bị hại bà Nguyễn Thị H1 khi điều khiển xe mô tô cũng có một phần lỗi: không chú ý quan sát, chuyển hướng sang trái không có tín hiệu báo hướng rẽ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho phương tiện khác đã vi phạm khoản 1 Điều 9; Khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ cũng là một phần nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông gây thiệt hại chính tính mạng của bản thân.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thế H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và biện pháp xử lý:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế H là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại mà còn xâm phạm đến lĩnh vực quản lý về an toàn công cộng và trật tự công cộng của Nhà nước, bị cáo H điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến địa phận có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, gây nên hậu quả bà Nguyễn Thị H1 đã chết. Vì vậy cần lên một hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3.1] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy:
- + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, sau khi tai nạn xảy ra, đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, được đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
[3.2] Về áp dụng hình phạt: Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi đánh giá nhân thân của bị cáo thì thấy Nguyễn Thế H phạm tội do lỗi vô ý do quá tự tin, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS; ý kiến của đại diện VKS huyện L tại phiên tòa cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy cần chấp nhận cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện
7
giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, vừa thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN. Áp dụng Điều 65 BLHS.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/3/2024, H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại bà Nguyễn Thị H1 số tiền 136.000.000 đồng. Đại diện bị hại anh Khiếu Hữu Đ, sinh năm 1980 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (con trai bà H1) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường thêm gì khác, Do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với thương tích vỡ xương bánh chè chân trái của H thì H không yêu cầu giải quyết và không yêu cầu ai phải bồi thường gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[5] Việc xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98L5- 9541 là tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị H1; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98AA- 076.82 là tài sản cá nhân của H, ngày 02/4/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản này cho đại diện bị hại và cho H. HĐXX xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra đã được xử lý trong giai đoạn điều tra truy tố là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
[6] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Bị cáo Nguyễn Thế H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 331; Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Xử phạt Nguyễn Thế H 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thế H cho UBND Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
8
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
2. Án phí và quyền kháng cáo: Nguyễn Thế H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm iết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
9
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Hùng - VPGT
