|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 53 /2024/HS-ST Ngày 28-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hành và bà Hoàng Văn Bẹ
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST ngày 16 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 06-08-2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Xuân T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15 tháng 10 năm 1987; Quê quán: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Trần Văn B (đã chết); Họ tên mẹ: Dương Thị L, sinh năm 1947; Anh chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ bảy; Vợ, con: chưa có.
Tiền án:
Bản án số 17/2018/HSST, ngày 15/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 2, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/01/2020, nhưng chưa được xóa án tích, thì lại phạm tội nêu trên.
Tiền sự: Không
1
Nhân thân: Ngày 30/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, tại bản án số 53/2021/HSST (hành vi phạm tội xảy ra sau lần phạm tội nêu trên nhưng xét xử trước).
Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 53/2021/HSST, ngày 30/12/2021 tại Trại giam Đ - Bộ C từ ngày 24/6/2021 cho đến nay,(có mặt).
- Bị hại:
1.Ông Nguyễn Văn H; sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ H1; sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Giáo viên; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Đức H2; sinh năm 1992; Nghề nghiệp: Sửa chữa điện thoại; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
2. Nguyễn Tiến V; sinh năm 1997; Nghề nghiệp: Công nhân; Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt)
3. Nguyễn Thị H3; sinh năm 1997; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T: Ông Lê Văn Q; nghề nghiệp: Trợ giúp viên pháp lý; Địa chỉ: Trung tâm T2 - thuộc sở Tư pháp Hà Tĩnh; số A, đường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/6/2020, Trần Xuân T đi xe mô tô của mình, xe không gắn biển kiểm soát đến Bệnh viện đa khoa thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để gửi xe. Sau khi gửi xe mô tô, Trần Xuân T đi bộ dọc đường Q theo hướng từ Bắc vào N để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến nhà của chị Nguyễn Thị Mỹ H1, ở tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, thấy gia đình chị H1 đã tắt đèn điện đi ngủ nên Trần Xuân T trèo qua hàng rào để vào nhà của chị Nguyễn Thị Mỹ H1. Khi đi vào trong sân, Trần Xuân T dùng điện thoại Nokia 1280 của mình bật đèn pin để tìm tài sản thì thấy anh Nguyễn Văn H (chồng của chị H1) đang nằm ngủ trên võng, trên chiếc võng để chiếc điện thoại VivoV69, màu đen nên Trần Xuân T đã lấy chiếc điện thoại của anh H bỏ vào túi quần. Lấy xong chiếc điện thoại, Trần Xuân T đi vào phía trong nhà và tiếp tục dùng điện thoại bật đèn pin tìm tài
2
sản. Khi đi vào phòng ngủ, Trần Xuân T thấy chị Nguyễn Thị Mỹ H1 đang nằm ngủ trên giường, trên đầu giường để chiếc điện thoại Samsung Galaxy J4, màu xanh nên đã lấy chiếc điện thoại cầm ở tay. Trần Xuân T tiếp tục tìm tài sản để lấy trộm thì thấy chiếc điện thoại Samsung S5, màu trắng để trên bàn học và chiếc máy tính xách tay hiệu Dell đựng trong chiếc cặp để phía trên tủ đựng quần áo cạnh giường ngủ nên đã lấy trộm chiếc điện thoại di động và chiếc máy tính xách tay. Lúc này, chị Nguyễn Thị Mỹ H1 vừa tỉnh giấc, thấy có người lạ mặt ở trong phòng nên hỏi ai đó thì Trần Xuân T mang theo các tài sản lấy trộm được bỏ chạy, nhảy qua hàng rào nhà chị H1, đi đến Bệnh viện Đa khoa thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh lấy xe mô tô đi về nhà. Đến chiều cùng ngày, Trần Xuân T mang 03 chiếc điện thoại lấy trộm được đến bán cho anh Trần Đức H2 làm nghề sửa chửa, buôn bán điện thoại di động ở xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh với giá 2.000.000đồng. Khi bán điện thoại cho anh Trần Đức H2, Trần Xuân T nói nối là điện thoại của mình cần tiền nên bán nên anh Trần Đức H2 đã mua số điện thoại trên. Còn chiếc máy tính xách tay, quá trình đưa đi cất dấu, Trần Xuân T đã làm mất. Số tiền bán tài sản trộm cắp được, Trần Xuân T đã tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 38 và 39/HĐĐG cùng ngày 03/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã K kết luận: 03(ba) chiếc điện thoại di động và 01(một) máy tính xách tay mà Trần Xuân T trộm cắp có tổng giá trị 13.525.000đồng, trong đó chiếc điện thoại Vivo V69, màu đen, trị giá 4.425.000đồng; chiếc điện thoại Samsung S5, màu trắng, trị giá 900.000đồng; chiếc điện thoại Samsung Galaxy J4, màu xanh, trị giá 2.700.000đồng và chiếc máy tính xách tay, trị giá 5.500.000đồng.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ: T1 từ Trần Đức H2 01(một) điện thoại di động Vivo V69, màu đen và 01(một) điện thoại di động S J4, màu xanh. Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Mỹ H1. Riêng chiếc điện thoại điện thoại di động Samsung S5, màu trắng do Trần Đức H2 đã bán cho khách qua đường và chiếc máy tính xách tay hiệu Dell, màu đen Trần Xuân T đã làm mất nên không thu hồi được. Còn chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen đã tháo biển kiểm soát và chiếc điện thoại Nokia 1280 mà Trần Xuân T sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đã xử lý tại Bản án số 53/2021/HSST, ngày 30/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Mỹ H1 và anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự, anh Trần Đức H2 không yêu cầu trả lại số tiền 2.000.000đồng tiền mua điện thoại
3
Với hành vi trên, Cáo trạng số 50/CT -VKS-TXKA ngày 10/07/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo Trần Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Xuân T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt bản án số 53/2021/HSST, ngày 30/12/2021của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 04 năm 06 tháng đến 04 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam theo bản án số 53/2021/HSST, ngày 30/12/2021của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là ngày 24/6/2021; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tại Trần Xuân T số tiền 2.000.000đồng do phạm tội mà có; Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T trình bày ý kiến cho rằng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo, hiện bản thân bị cáo đang nuôi mẹ già; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
4
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ, ngày 27/6/2020, Trần Xuân T đi vào nhà của chị Nguyễn Thị Mỹ H1 ở tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để trộm cắp tài sản. Lợi dụng gia đình chị Nguyễn Thị Mỹ H1 đã tắt đèn điện đi ngủ, Trần Xuân T dùng đèn pin điện thoại di động của mình dọi tìm tài sản, lấy trộm 03 chiếc điện thoại di dộng và 01 máy tính xách tay của chị Nguyễn Thị Mỹ H1 và anh Nguyễn Văn H, với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 13.525.000đồng. Sau khi trộm cắp tài sản Trần Xuân T đem 03 chiếc điện thoại di động đã trộm được bán cho anh Trần Đức H2 được 2.000.000đồng, còn chiếc máy tính xách tay Trần Xuân T đã làm mất. Số tiền bán được tài sản, Trần Xuân T tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của Trần Xuân T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ lối sống buông thả, lười lao động nhưng thích hưởng thụ, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác nhằm chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Xuân T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên cần xem xét cho bị cáo hưởng them tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; Xét thấy: Bị cáo Trần Xuân T đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại
5
thực hiện hành vi phạm tội, sau khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trong vụ án này thì bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi về tội “Trộm cắp tài sản” đã bị Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 42 tháng tù tại Bản án số 53/2021/HS-ST, ngày 30/12/2021, bản án đã có hiệu lực pháp luật, hiện bị cáo Trần Xuân T đang chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải về những hành vi vi phạm pháp luật mà bản thân đã gây ra tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và cần áp dụng Điều 56 và Điều 104 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với Trần Đức H2, là người mua 03 chiếc điện thoại do Trần Xuân T trộm cắp, nhưng khi mua Trần Đức H2 không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Mỹ H1 và anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự, anh Trần Đức H2 không yêu cầu trả lại số tiền 2.000.000đồng tiền mua điện thoại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 2.000.000đồng Trần Xuân T thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Đức H2 không yêu cầu trả lại. Căn cứ điểm b khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước
[8]. Về vật chứng:
Đối với 01(một) điện thoại di động Vivo V69, màu đen và 01(một) điện thoại di động S J4, màu xanh. Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Mỹ H1. Riêng chiếc điện thoại điện thoại di động Samsung S5, màu trắng do Trần Đức H2 đã bán cho khách qua đường và chiếc máy tính xách tay hiệu Dell, màu đen Trần Xuân T đã làm mất nên không thu hồi được. Còn chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen đã tháo biển kiểm soát và chiếc điện thoại Nokia 1280 mà Trần Xuân T sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đã xử lý tại Bản án số 53/2021/HSST, ngày 30/12/2021của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh nên không xem xét.
6
[9]. Về án phí: Bị cáo Trần Xuân T thuộc diện hộ cận nghèo nên không phải chịu án phí hình sự sơ .
[10]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm b khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt Trần Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù; Tổng hợp hình phạt Bản án số 53/2021/HS-ST, ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân thành huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh buộc Trần Xuân T phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 04(bốn) năm, 09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam theo Bản án số 53/2021/HS-ST, ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là ngày 24/6/2021.
3.Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tại Trần Xuân T số tiền 2.000.000đ(Hai triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Bị cáo Trần Xuân T thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Tư |
8
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 53
