Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG HÒA

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 53/2024/ HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Cương

Ông Lương Văn Phúc.

– Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn C, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 27/3/1979, tại xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn;

Nơi ĐKHKTT: xóm B, xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Hoàng Văn D (đã chết) và bà Hà Thị D1 (đã chết); Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1982; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2017. Bị cáo là con út trong gia đình có 07 anh, chị, em.

Tiền án:

  • + Ngày 21/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 22/2014/HSST.
  • + Ngày 19/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng xử phạt 03 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 03/2017/HSST
  • + Ngày 27/10/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 03 năm tù về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Bản án số 56/2020/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/5/2023.

2

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

  1. Phan Thế A, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 13/8/1984, tại Q, Cao Bằng;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Phan Thanh B, sinh năm 1959 và bà Long Thị A1, sinh năm 1961; Vợ: Mông Thị D2, sinh năm 1987; Bị cáo có 01 con sinh năm 2006. Bị cáo là con cả trong gia đình có 05 anh, em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

  1. Nông Thanh G, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/4/1974, tại Q, Cao Bằng;

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố I, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nông Quốc L, sinh năm 1941 và bà Mông Thị T, sinh năm 1947; Vợ: Lăng Ngọc Á, sinh năm 1976; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Hoàng Văn T1; sinh năm 1982; trú tại: Xóm B, xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Hoàng Văn T2; sinh năm 1992; trú tại: Xóm B, xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
  2. Nguyễn Văn Q; sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.

(Những người làm chứng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

3

Khoảng 19 giờ ngày 27/3/2024, Tổ công tác của Đội hình sự-kinh tế-ma túy Công an huyện Q chủ trì phối hợp với Công an thị trấn H thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Tổ dân phố H, thị trấn H thì phát hiện Nông Thanh G, sinh năm 1974, trú tại Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, Biển kiểm soát 11U1-067.93, màu sơn trắng, đỏ đang di chuyển trên đường có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại trong lỗ thủng trên yên xe của G có 01 gói được gói bằng vỏ bơm kim tiêm, bên trong có 02 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh được hàn nhiệt, bên trong cả 02 gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. G khai nhận số chất bột dạng cục màu trắng là ma túy, loại Heroine của G. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Hồi 19 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, công trình liên quan của Nông Thanh G tại Tổ dân phố H, thị trấn H, Q, Cao Bằng. Kết quả khám xét thu giữ: 01 mảnh kim loại có kích thước 0,5x04cm.

Hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói nilon màu xanh thu giữ của Nông Thanh G, có khối lượng 0,302 gam (Không phảy ba không hai gam).

Tại kết luận giám định số 225/KL-KLHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất cục bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma tuý, loại Heroine.

Hồi 20 giờ ngày 27/3/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra hình sự-kinh tế-ma túy Công an huyện Q, Cao Bằng chủ trì phối hợp với Công an thị trấn H và Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế T3 thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại thị trấn H. Khi đến khu vực Tổ dân phố C thì phát hiện trong phòng khách nhà ở của Hoàng Văn C có C, sinh năm 1979, nơi ở hiện tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, Q và Hoàng Văn T1, sinh năm 1982, trú tại: xóm B, M, Q, Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện C và T1 đang ngồi trên ghế trong phòng khách, trên tay của T1 đang cầm 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy xém và 01 bật lửa ga màu đỏ. Phát hiện trên ghế cạnh chỗ C đang ngồi có 01 bơm kim tiêm, 01 lọ bằng thủy tinh chứa nước cất đã qua sử dụng. Phát hiện trên mặt đất dưới gầm ghế cạnh chân phải của C 01 gói bên ngoài gói bằng lớp nilon màu trắng được hàn nhiệt, mở ra bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

4

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở, công trình có liên quan của Hoàng Văn C vào hồi 20 giờ 45 phút. Kết quả khám xét phát hiện và thu giữ:

- Phát hiện trên ghế ngồi, loại ghế gỗ kê ở phòng khách có 01 túi màu đen, loại túi vải bên trong có: 01 gói được gói ngoài bằng vỏ của xi lanh, bên trong có 01 gói giấy màu đen trắng (vỏ bao thuốc lá du lịch), bên trong có chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine; 02 mảnh giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc; 01 chiếc kéo bằng kim loại.

- Phát hiện trên mặt bàn kê trong buồng ngủ của C có 01 gói được gói bằng vỏ bao thuốc lá du lịch màu trắng đen, bên trong có chứa cục chất bột màu trắng (nghi là ma túy, loại Heroine); Phát hiện trong túi quần bên phải treo trong buồng ngủ của C số tiền 960.000 đồng tiền Ngân hàng N.

Hồi 22 giờ 20 phút ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn C có khối lượng là: 0,263 gam; Vật chứng thu giữ khi khám xét Hoàng Văn C số 01 có khối lượng là: 0,091 gam; Vật chứng thu giữ khi khám xét Hoàng Văn C số 02 có khối lượng là: 0,092 gam.

Tại kết luận giám định số 228/KL-KLHS ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Ba mẫu chất cục bột màu trắng bên trong 03 ba phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma tuý, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn C khai nhận: Ngày 25/3/2024 Hoàng Văn C một mình bắt xe khách từ nhà ở của mình tại Tổ dân phố C, thị trấn H, Q, Cao Bằng về quê tại xóm N, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để ăn cưới. Ngày 26/3/2024 sau khi ăn cưới xong thì C gặp và hỏi mua ma tuý một người đàn ông không quen biết rồi đưa số tiền 2.000.000 đồng cho người đó, người đó nhận tiền và đưa cho C 01 gói được gói bằng mảnh nilon, bên trong có 04 gói ma tuý. Mua được ma túy, C bắt xe khách về nhà tại Tổ dân phố C, thị trấn H và chia thành 08 gói nhỏ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/3/2024 Cun đang ở nhà thì có Nông Thanh G gọi điện thoại cho C để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng thì C đồng ý. Sau đó G đi đến nhà gặp và đưa cho C 950.000 đồng, C cầm lấy tiền và đưa cho G 02 gói ma túy. Giao dịch xong G đi về. Một lúc sau có Hoàng Văn T1 (trú tại B, M) đến nhà C chơi. Cun và T1 ngồi uống rượu, ăn cơm với nhau. Lúc này trong nhà chỉ có C và T1, khi đang ngồi, C nói “Cả ngày tao chưa chơi phát nào”, T1 nói “có không, cho tao chơi một tý, tý tao đưa tiền”, C nói “trong túi ấy, tự lấy đi” và nói tiếp “xong nhớ trả tiền đấy”. Sau đó T1 mở túi đen ở trên ghế ra và lấy 01 gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước trong phòng khách nhà C. Khi T1 đem ma tuý ra sử dụng thì C có ở đấy và nhìn thấy nhưng không can ngăn mà đồng ý cho T1 sử dụng ma tuý ngay bàn uống nước tại phòng khách nhà ở nơi thuộc sự quản lý

5

của mình. Còn C lấy 01 gói ma tuý, xilanh và nước cất ra chuẩn bị sử dụng ma túy cho bản thân thì bị lực lượng chức năng đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Sau đó khám xét thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Trước đó, Hoàng Văn C đã bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người nghiện khác nhau, cụ thể:

  • + Khoảng trưa ngày 04/12/2023, C đang ở nhà thì Nông Thanh G gọi điện thoại đến để hỏi mua ma tuý thì C đồng ý. Sau đó G một mình đi xe mô tô đến nhà gặp C, tại đây C đã bán trái phép 01 gói ma tuý cho G với giá 500.000 đồng.
  • + Sáng ngày 07/12/2023 và trưa ngày 24/12/2023 cũng với hình thức giao dịch như trên, C đã bán trái phép cho Nông Thanh G mỗi lần 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng. Sáng ngày 22/02/2024 C tiếp tục bán trái phép 01 gói ma tuý cho G với giá 500.000 đồng.
  • + Khoảng đầu tháng 3/2024 (không nhớ ngày cụ thể) khi C đang đi xây nhà tắm cho nhà anh P (không rõ họ, tên đệm, năm sinh) tại xóm B, M thì gặp Hoàng Văn T2 (trú tại xóm B, xã M) ở đó. Thụ hỏi mua ma túy với C, đồng thời đưa cho C số tiền 100.000 đồng, C cầm lấy tiền rồi lấy gói ma tuý ở trong người ra đưa cho T2. T2 cầm lấy rồi đi luôn, đi đâu làm gì thì C không biết.
  • + Khoảng giữa tháng 3/2024 khi C đang cùng Hoàng Văn T1 (trú tại xóm B, M) đi xây ở xóm B Phường (xóm N cũ), xã M, huyện Q thì T1 hỏi mua ma tuý với C và đồng thời đưa số tiền 100.000 đồng cho C. C cầm lấy tiền và lấy gói ma tuý từ trong người ra đưa cho T1, T1 nhận ma tuý và đi đâu C không biết.

Nguồn gốc số ma túy mà Hoàng Văn C có để bán cho Nông Thanh G là C mua với một người đàn ông không quen biết tại cửa khẩu N1 thuộc xã Q, huyện T, Lạng Sơn vào ngày 03/12/2023 với giá 1.500.000 đồng. Mua được ma tuý, C quay về nhà của mình và chia số ma tuý vừa mua được thành 08 gói nhỏ. Sau đó đó bán cho G 04 lần/04 gói, còn lại 04 gói Cun đã sử dụng cho bản thân hết. Còn số ma tuý có để bán cho Hoàng Văn T2 và Hoàng Văn T1 là do C đi mua với một người đàn ông không quen biết tại cửa khẩu N1 thuộc xã Q, huyện T vào đầu tháng 3/2024 với giá 400.000 đồng. Số ma tuý này C đem về nhà chia thành 04 gói nhỏ. Sau đó bán cho T1 và T2 số còn lại C sử dụng cho bản thân.

Còn Nông Thanh G quá trình điều tra xác định được: Do bản thân là người nghiện ma tuý nên khoảng 18 giờ ngày 27/3/2024, khi G đang ở nhà thì có Nguyễn Văn Q (trú tại Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q) đến nhà gặp G và nói “anh ơi, tìm giúp em một cái với” (nghĩa là anh ơi tìm ma tuý giúp em), G nói “để anh gọi điện thoại đã”, Q nói “anh biết chỗ nào tìm cho em một cái”. Sau đó G gọi điện thoại từ số 0982.034.xxx của mình đến cho Hoàng Văn C (không nhớ số điện thoại của C) để hỏi mua ma tuý, G hỏi bằng tiếng nùng, dịch ra tiếng phổ thông là “nhà còn rượu không, còn không lấy cho 02 cái” nghĩa là

6

“mua 02 gói ma tuý”, C trả lời “ừ”. Sau khi nói chuyện điện thoại xong thì G nói với Q là đã tìm được chỗ mua ma tuý. Q nói đi xoay tiền, khoảng 10 phút sau quay lại và đưa cho G 950.000 đồng và nói em đi mua xilanh. G cầm tiền của Q đưa rồi cất vào túi áo bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 11U1- 067.93 từ nhà ở của mình đến nhà C tại Tổ dân phố C, thị trấn H. Đến nơi, G đi vào nhà thì thấy C ở trong nhà, G đi vào gặp và nói “cho anh chai rượu” và đưa cho C số tiền 950.000 đồng gồm nhiều tờ mệnh giá khác nhau. C cầm lấy tiền và nói “ừ” rồi lấy cho G 01 bình rượu. Sau đó C đi xuống bếp một lúc rồi quay lại đưa cho G 01 nửa gói vỏ bao xilanh bên trong có 02 gói nilon màu xanh bên trong có ma tuý. G cầm lấy rồi đi ra xe mô tô để 02 gói ma tuý vào vết thủng của yên xe và điều khiển xe đi về. Khi về đến trước cửa nhà của mình tại Tổ dân phố H, thị trấn H thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bột vật chứng.

Trước đó Nông Thanh G còn được mua ma tuý với Hoàng Văn C 04 lần, thời gian, địa điểm và hình thức giao dịch G khai phù hợp với lời khai của Hoàng Văn C. Mục đích G mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra không có mục đích khác.

Khi được triệu tập lấy lời khai, Quyền khai nhận ngày 27/3/2024 Q đến gặp và hỏi G mua ma túy với số tiền 500.000 đồng chứ không được đưa tiền cho G để nhờ G đi mua ma túy hộ. Trước ngày bị bắt khoảng một tuần, Q cũng được mua ma túy với G một lần với số tiền 500.000 đồng. Tiến hành đối chất thì Q và G đều giữ nguyên lời khai của mình. Ngoài lời khai của Q ra không có chứng cứ nào khác để chứng minh việc G bán ma túy cho Q. Do vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với Nông Thanh G.

Ngoài mua ma tuý với Hoàng Văn C ra thì G còn được mua với Phan Thế A (trú tại L, H, Q) về sử dụng 02 lần, cụ thể:

  • + Lần thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 22/3/2024, G sử dụng điện thoại của mình gọi vào số điện thoại 0976.539.xxx của Phan Thế A để hỏi mua ma tuý thì A đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì G một mình điều khiển xe mô tô đến nhà và mua với Anh 01 gói ma tuý với giá 400.000 đồng tại trước cửa nhà của Anh ở xóm L, H.
  • + Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 41 ngày 24/3/2024, G sử dụng điện thoại của mình gọi vào số điện thoại của Phan Thế A để hỏi mua ma tuý thì A đồng ý. Khoảng 20 phút sau thì G một mình điều khiển xe mô tô đến nhà của Anh tại L, Hạnh P1 gặp và mua với Anh 01 gói ma tuý được gói bằng mảnh nilon được hàn nhiệt với giá 500.000 đồng. Địa điểm giao dịch tại đường trước cửa nhà của Phan Thế A.

7

Hồi 14 giờ 50 ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành mở niêm phong kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn sim số 0912.456.236 và số 0982.034.236 tạm giữ khi bắt quả tang Nông Thanh G. Qua kiểm tra tại mục nhật ký cuộc gọi có nhiều cuộc hội thoại được ghi âm thể hiện nhiều cuộc gọi liên quan đến việc trao đổi mua, bán ma tuý từ tháng 8/2023 cho đến ngày Nông Thanh G bị bắt. Trong đó, có cuộc gọi đi đến giữa số thuê bao 0982.034.236 của Nông Thanh G với số thuê bao 0975.390.719 lưu trong danh bạ tên “Anhll”. Qua xác minh, xác định chủ số thuê bao trên là Phan Thế A, sinh năm 1984, trú tại: xóm L, H, Q, Cao Bằng. Thể hiện, ngày 24/3/2024 G gọi điện cho A hỏi mua một chai (tức là mua một gói ma tuý), sau đó G đến nhà Anh mua 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ tài liệu phát hiện, thu giữ được trên điện thoại và lời khai của Nông Thanh G, ngày 10/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét người, nơi ở, phương tiện, công trình liên quan của Phan Thế A tại xóm L, xã H vào hồi 11 giờ 30 phút. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ trong tủ lạnh tại phòng khách trong nhà của Phan Thế A 03 (lọ) nhựa chứa dung dịch dạng lỏng màu vàng cam; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, loại A50.

Tại Bản kết luận giám định số 3809/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của V Bộ C2 kết luận: Chất lỏng màu vàng cam gửi giám định là dung dịch Methadone, tổng thể tích mẫu: 224,0ml; nồng độ Methadone là: 0,57mg/ml. Khối lượng Methadone trong 224,0ml mẫu là 0,127gam.

Tại cơ quan điều tra Phan Thế A khai nhận: Dung dịch có trong 03 lọ nhựa là M, Thế A mua vào khoảng năm 2014 với một người đàn ông Trung Quốc không biết họ tên, địa chỉ cụ thể với giá 800.000 đồng tại khu vực cửa khẩu T3, Q, Cao Bằng mục đích đem về sử dụng cho bản thân và khai nhận có quen biết với Nông Thanh G, giữa hai người có mối quan hệ quen biết bình thường, không có quan hệ gì đặc biệt, không có mâu thuẫn gì với nhau. Anh đã được trao đổi, mua bán ma tuý với Nông Thanh G qua điện thoại 02 lần, cụ thể:

  • + Lần thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ ngày 22/3/2024, Phan Thế A đã bán cho G 01 gói ma tuý được gói bằng lớp nilon màu xanh với giá 400.000 đồng tại sân nhà của A.
  • + Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 24/3/2024 cũng với hình thức giao dịch như trên, Thế A bán trái phép 01 gói ma tuý cho Nông Thanh G với giá 500.000 đồng.

Nguồn gốc ma tuý cả hai lần Thế A bán cho G đều mua tại thị trấn H với người phụ nữ không quen biết. Mục đích Phan Thế A mua ma túy để sử dụng cho bản thân và bán cho G.

8

Xét thấy nguồn gốc ma túy của Nông Thanh G có để sử dụng cho bản thân là do Hoàng Văn C và Phan Thế A cung cấp. Do vậy, ngày 09/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định nhập vụ án hình sự số 381 đối với ba vụ án trên để điều tra theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Hoàng Văn C, Phan Thế A và Nông Thanh G đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của Hoàng Văn C, Phan Thế A và Nông Thanh G phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSQH ngày 28 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hoà đã truy tố bị cáo Hoàng Văn C ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Phan Thế A để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nông Thanh G để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn C, Phan Thế A và Nông Thanh G thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội và hướng giải quyết vụ án như sau:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phan Thế A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nông Thanh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt:
  • + Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm đ khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 08 năm - 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 07 năm - 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Hoàng Văn C phải chịu là 15 năm – 17 năm tù;

9

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thế A từ 07 năm - 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nông Thanh G từ 01 năm - 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • + Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng.
  • - Về vật chứng của vụ án:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày của các bị cáo Hoàng Văn C, Phan Thế A và Nông Thanh G còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định; giấy gói, nilon và vỏ niêm phong, 02 mảnh giấy bạc, 01 xilanh, 01 lọ nước cất, 01 cái kéo thu giữ của Hoàng Văn C ngày 27/3/2024; Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, 01 mảnh kim loại có kích thước khoảng 0,5 x 04cm, một đầu bị đốt cháy xém thu giữ của Nông Thanh G ngày 27/3/2024; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy xém một phần, 01 bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Hoàng Văn T1. Do những vật chứng này là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, loại bàn phím bấm màu đen và số tiền 960.000 đồng của Hoàng Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, mặt sau màu tím đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ trắng, biển kiểm soát 11U1-067.93, xe đã qua sử dụng của Nông Thanh G; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ Samsung của Phan Thế A do liên quan tới hành vi phạm tội.

- Trả cho Hoàng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

- Truy thu số tiền 1.590.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Văn C do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Truy thu số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Phan Thế A do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

10

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Biên bản khám xét người và chỗ ở, vật chứng thu giữ và lời khai của những người làm chứng. Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh:

Ngày 27/3/2024, Nông Thanh G một mình điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 11U1-067.93 từ nhà ở của mình tại Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q đến gặp và mua với Hoàng Văn C tại Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q 02 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng: 0,302 gam với giá 950.000 đồng mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Mua được ma túy, G điều khiển xe mô tô quay về nhà của mình. Khi đến khu vực trước cửa nhà tại Tổ dân phố H, thị trấn H thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Còn Hoàng Văn C sau khi có hành vi bán trái phép 02 gói ma tuý có khối lượng 0,302 gam cho Nông Thanh G với giá 950.000 đồng thì C tiếp tục bán trái phép chất ma tuý cho Hoàng Văn T1 01 gói với giá 100.000 đồng (T1 chưa trả tiền), rồi đồng ý cho T1 sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước trong phòng khách nhà ở thuộc quyền quản lý và sử dụng của C. Khi T1 vừa sử dụng xong thì bị lực lượng chức năng đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 0,263 gam ma tuý, loại Heroine. Sau đó khám xét phát hiện và thu giữ 02 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,183 gam ma tuý mục đích Cun cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Trước đó Hoàng Văn C đã bán trái phép chất ma tuý nhiều lần, cho nhiều người nghiện khác nhau, cụ thể: Bán cho Nông Thanh G 04 lần, mỗi lần 01 gói. Trong đó có 02 lần mỗi lần 500.000đ/ 01 gói và 02 lần mỗi lần 200.000 đ/01 gói; bán cho Hoàng T1 một lần 01 gói với giá 100.000đ; bán cho Hoàng Văn T2 một lần 01 gói với giá 100.000

11

đồng. Tổng 07 lần bán trái phép chất ma tuý, Hoàng Văn C thu lợi bất chính với số tiền 2.550.000 đồng.

Đối với Phan Thế A: Phan Thế A đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nông Thanh G 02 lần, ngày 22/3/2024 bán 01 gói với giá 400.000 đồng và ngày 24/3/2024 bán 01 gói với 500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/5/2024, khi Anh đang ở nhà thì bị lượng chức năng khám xét phát hiện và thu giữ 0,127 gam dung dịch Methadone mục đích Anh để sử dụng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được, biết rõ tác hại của ma túy và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội; hành vi của bị cáo còn thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

Bị cáo Hoàng Văn C là người nghiện ma túy từng bị xử phạt nhiều lần về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, biết rõ tác hại và hiểu được hành vi cho những người nghiện khác sử dụng trái phép ma túy tại nhà của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã được bán ma túy nhiều lần và ngày 27/3/2024 việc bị cáo không ngăn cản T1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q Khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm đ Khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phan Thế A nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thực hiện. hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,302 gam Heroine của bị cáo Nông Thanh G đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, C1, Methamphetamine, A2, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố các bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hoàng Văn C có nhân thân xấu, bị cáo có 03 tiền án chưa được xoá án tích và người nghiện ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

12

Các bị cáo Phan Thế A và Nông Thanh G không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, các bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bố đẻ của bị cáo Nông Thanh G được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Cả 03 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Các nhận định khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn C vào ngày 03/12/2023 và ngày 26/3/2024 và người phụ nữ bán ma túy cho Phan Thế A vào ngày 22 và ngày 24/3/2024. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra.

Đối với Hoàng Văn T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T1 với hình thức Cảnh cáo theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47 ngày 22/4/2024 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn Q và Hoàng Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên tại thời điểm xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu có kết quả âm tính, nên Công an huyện Q không tiến hành xử phạt hành chính là đúng quy định.

Đối với 0,127 gam dung dịch Methadone thu giữ khi khám xét nhà ở của Phan Thế A. Xét thấy khối lượng Methadone thu giữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 BLHS. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thế A với hình thức phạt tiền theo Quyết định số 60 ngày 12/7/2024 là đúng quy định.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

13

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 27/3/2024 của các bị cáo Hoàng Văn C, Nông Thanh G và 03 lọ dung dịch Methadone thu giữ của Phan Thế A ngàu 10/5/2024 còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định; giấy gói, nilon và vỏ niêm phong, 02 mảnh giấy bạc, 01 xilanh, 01 lọ nước cất, 01 cái kéo thu giữ của Hoàng Văn C ngày 27/3/2024; Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, 01 mảnh kim loại có kích thước khoảng 0,5 x 04cm, một đầu bị đốt cháy xém thu giữ của Nông Thanh G ngày 27/3/2024; 01 mảnh giấy bạc bị đốt chay xém một phần, 01 bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Hoàng Văn T1. Do những vật chứng này là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, loại bàn phím bấm màu đen và số 960.000 đồng của Hoàng Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, mặt sau màu tím đen của Nông Thanh G; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ Samsung của Phan Thế A do liên quan tới hành vi phạm tội.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ trắng, biển kiểm soát 11U1-067.93 là xe của bị cáo Nông Thanh G; bị cáo mua bằng tiền của bị cáo. Ngày 27/3/2024, bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy và cất giấu ma túy tại lỗ thủng trên yên xe, bị cáo G đã sử dụng chiếc xe là nơi cất giấu ma túy do đó cần tịch thu chiếc xe sung Ngân sách nhà nước.

Trả cho Hoàng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng do không liên quan tới hành vi phạm tội.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/9/2024.

[7] Truy thu số tiền 1.590.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Văn C và số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Phan Thế A do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

14

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”;

Tuyên bố bị cáo Phan Thế A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Tuyên bố bị cáo Nông Thanh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm đ khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo Hoàng Văn C phải chịu 16 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/3/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Thế A 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nông Thanh G 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/3/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số: 228/GĐ-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 27/3/2024”.
  • + 01 phong bì thư mặt trước ghi “Giấy gói, nilon và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn C ngày 27/3/2024".
  • + 01 phong bì mặt trước ghi “02 mảnh giấy bạc Hoàng Văn C”.
  • + 01 phong niêm phong mặt trước ghi “01 xilanh, 01 lọ nước cất Hoàng Văn C khi bắt quả tang”.
  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “01 cái kéo Hoàng Văn C”.
  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “số: 225/GĐ-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Thanh G có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 27/3/2024".
  • + 01 phong bì thư mặt trước ghi “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Nông Thanh G”.

15

  • + 01 mảnh kim loại có kích thước khoảng 0,5 x 04cm, một đầu bị đốt cháy xém.
  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “số: 3809/KL-KTHS. Mâu vật sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại”.
  • + 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy xém một phần; 01 bật lửa ga màu đỏ.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước các vật chứng sau:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, loại bàn phím bấm màu đen, máy đã qua sử dụng và số tiền 960.000 đồng tiền Ngân hàng N của Hoàng Văn C.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, mặt sau màu tím đen, máy đã qua sử dụng thu giữ của Nông Thanh G.
  • + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ Samsung, máy đã qua sử dụng thu giữ của Phan Thế A.
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ trắng, Biển kiểm soát 11U1-067.93, xe đã qua sử dụng.

Trả cho Hoàng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/9/2024.

4. Truy thu nộp Ngân sách nhà nước:

Truy thu số tiền 1.590.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Văn C do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy.

Truy thu số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Phan Thế A do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Hoàng Văn C, Phan Thế A, Nông Thanh G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo Hoàng Văn C, Phan Thế A, Nông Thanh G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Văn T1 có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

16

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh CB;
  • - Sở tư pháp;
  • - Phòng hồ sơ – CA tỉnh;
  • - VKSND tỉnh CB;
  • - VKSND huyện QH;
  • - Công an huyện QH;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Công an Thị trấn Hòa Thuận;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THA dân sự huyện;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu: Án văn, THA hình sự và HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 19 giờ ngày 27/3/2024, Tổ công tác của Đội hình sự-kinh tế-ma túy Công an huyện Q chủ trì phối hợp với Công an thị trấn H thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Tổ dân phố H, thị trấn H thì phát hiện Nông Thanh G, sinh năm 1974, trú tại Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, Biển kiểm soát 11U1-067.93, màu sơn trắng, đỏ đang di chuyển trên đường có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại trong lỗ thủng trên yên xe của G có 01 gói được gói bằng vỏ bơm kim tiêm, bên trong có 02 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh được hàn nhiệt, bên trong cả 02 gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. G khai nhận số chất bột dạng cục màu trắng là ma túy, loại Heroine của G. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Hồi 19 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, công trình liên quan của Nông Thanh G tại Tổ dân phố H, thị trấn H, Q, Cao Bằng. Kết quả khám xét thu giữ: 01 mảnh kim loại có kích thước 0,5x04cm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger